Chúa Thánh Thần và vai trong của Ngài trong đời sống chúng ta

20/05/2026
9


CHÚA THÁNH THẦN VÀ VAI TRÒ CỦA NGÀI

TRONG ĐỜI SỐNG CHÚNG TA



Dẫn Nhập
     Trước công đồng Vaticanô II, Chúa Thánh Thần là một ngôi vị bị lãng quên trong một góc trời xa lạ đầy huyền bí. Thánh Linh như ngọn lửa đom đóm leo lét, chập chờn giữa một đêm đông âm u giá lạnh kéo dài gần 14 thế kỷ. Thần Khí như ngọn gió hắt hiu trên sườn đồi cô đơn cuối chân trời. Mới khoảng 30 năm gần đây, các phong trào Thánh Linh, phong trào Canh Tân Đặc Sủng …phát triển khá rầm rộ với số thành viên lên tới hàng triệu người. Riêng ở Việt nam, có lẽ do hoàn cảnh đặc thù, nên những phong trào này mới được số ít người biết đến và hoạt động tương đối âm thầm. Nhìn chung, đại đa số giáo dân chúng ta vẫn còn xa lạ với Chúa Thánh Thần. Tại sao vậy? Có lẽ chúng ta vẫn còn mang cặp mắt nhân loại. Trong khuôn khổ này, chúng ta cùng tìm hiểu về Chúa Thánh Thần trong đời sống người kitô hữu, để chúng ta yêu mến Ngài và sống gần gũi với Ngài hơn.
I. Chúa Thánh Thần Là Đấng Nào?
1. Chúa Thánh Thần là Ngôi thứ Ba
     Chúa Thánh Thần là Ngôi thứ Ba, bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra. Ngài là Thiên Chúa thật, cùng một bản tính và một quyền năng như Chúa Cha và Chúa Con. Thiên Chúa Ba Ngôi là tín điều căn bản của Công giáo mà Chúa nhật nào chúng ta cũng hát hoặc lớn tiếng tuyên xưng qua Kinh Tin Kính. Tuy Ba Ngôi một Chúa nhưng chúng ta vẫn thích tách Ba Ngôi ra làm ba khung trời riêng biệt. Cần tôn vinh, ngợi khen, cảm tạ, ta đồng thanh hoặc âm thầm dâng những lời chúc tụng lên Chúa Cha. Cần tâm sự, chúng ta có thể trò chuyện với Chúa Giêsu hàng giờ. Cần xin Chúa soi sáng giúp mình làm một việc gì, lúc đó chúng ta mới chịu ghé qua Chúa Thánh Thần trong giây lát rồi lập tức vùi đầu vào công việc mà chúng ta đã ấp ủ và lên kế hoạch từ lâu rồi. Chúng ta còn tuyên xưng rằng: Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần. Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Như thế chứng tỏ một cách rõ ràng rằng chúng ta chỉ thích tuyên xưng ngoài miệng chứ không thực hiện niềm tin này vào trong cuộc sống. Lý do đơn giản là Ngôi Ba Thánh Thần dường như rất còn xa lạ với phần đông chúng ta.
2. Chúa Thánh Thần là Đấng bảo trợ
     Trước khi hiến mình trên Thánh giá, Đức Giêsu đã hứa với các môn đệ: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi”(Ga 14,16). Khi còn sống nơi trần thế, Đức Giêsu là Đấng bảo trợ các môn đệ của mình. Sau khi Đức Giêsu về trời, Chúa Cha đã ban cho chúng ta một Đấng Bảo trợ khác là chính Thánh Thần. Mang tiếng là Đấng bảo trợ và ở với chúng ta luôn mãi, nhưng thật oái oăm, Chúa Thánh Thần dường như không bao giờ được chúng ta nhớ tới trong những giờ phút lâm nguy. Thực vậy, mỗi khi đối đầu với đau khổ, khó khăn người thì vội chạy tới Đức Mẹ, người thì tìm đến Thánh Giuse, các thánh. Có người đi mãi tới tận mũi Cà mau cầu xin với cha Diệp. Người khá giả có thể đáp máy bay sang cầu xin với Đức Mẹ Fatima, Đức Mẹ Lộ-đức. Hoá ra Thánh Thần chỉ được tiếng oai phong là Đấng Bảo trợ nhưng thực tế chúng ta rất ít khi chạy đến với Ngài.
3. Chúa Thánh Thần là Đấng hướng dẫn
     Thường thường, trước khi khởi sự làm việc gì đạo đức, chúng ta mới cùng nhau hát: Cầu xin Chúa Thánh Thần, Người thương thăm viếng hồn con. Cứ như thể suốt đời Ngài chu du khắp nơi và chỉ viếng thăm khi ta cầu xin Ngài. Ấy là chưa kể rất nhiều khi miệng thì hát mà lòng trí vẫn bay bổng tới những phương trời vui chơi, giải trí, làm ăn, học hành.. thậm chí đầu óc còn mải toan tính việc trả thù rửa hận cho hả lòng. Hơn nữa, làm sao ta có thể nghe được tiếng của Ngài hướng dẫn mà làm theo?! Khó quá! Khó quá!

 


II. Chúa Thánh Thần trong đời sống người kitô hữu
     Đời sống của người kitô hữu là một đời sống được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần. Điều này đã được Thánh Phaolô quả quyết: “ Quả thế, tất cả những ai được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, họ đều là con cái của Thiên Chúa” ( Rm 8,14 ).
1. Chúa Thánh Thần luôn hiện diện trong lòng chúng ta và thần hoá chúng ta
a. Chúa Thánh Thần luôn hiện diện trong lòng chúng ta
     Nhà thần học Yves Congar đã viết: “ Chúa Thánh Thần là sự nội tâm, sự tự do. Được đổ vào lòng chúng ta, chúng ta khẩn cầu Ngài như là vị khách dịu hiền và rất khả ái của tâm hồn chúng ta”. Thánh Phaolô nói một cách rõ ràng hơn về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong lòng những người tín hữu: “ Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của Ngài đến cư ngụ trong lòng chúng ta” (Gal 4,6). Chúa Thánh Thần được ban cho mỗi người kitô hữu, để thiết lập sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn những ai đón nhận Ngài. Nhờ Thánh Thần, Thiên Chúa hiện diện trong con người, khi thông ban cho họ chính sự sống và tình yêu của Ngài. Theo kinh nghiệm của Thánh Augustinô, Chúa Thánh Thần hiện diện tận chốn sâu thẳm nhất của lòng chúng ta, một sự hiện diện sâu thẳm và thân mật hơn cả chính chúng ta gần gũi với mình.
b. Chúa Thánh Thần thần hoá con người chúng ta
     Thánh Iréne đã từng nói: “ Thiên Chúa làm người để con người được thần hoá”, sự thần hoá này được thực hiện nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Trong Chúa Thánh Thần chúng ta được làm cho trở nên con của Chúa Cha và trở nên những người anh em của Chúa Giêsu. Chúa Thánh Thần sẽ biến đổi tận căn chúng ta khi Ngài thần hoá chúng ta. Nghĩa là Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta được tham dự vào chính bản tính và đời sống của Thiên Chúa, làm cho chúng ta hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Con. Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta kêu lên được rằng: “Abba, Cha ơi! Như thế, anh em không còn là nô lệ, nhưng là con, và nếu là con, thì anh em cũng là người thừa kế” ( Gal 4,6-7 ). Sự thần hoá này sẽ đạt tới sự viên mãn trong Đức Kitô vào thời gian cuối cùng, khi kẻ chết sống lại, khi đó chúng ta sẽ là con Thiên Chúa cách viên mãn như Đức Kitô trong Thánh Thần của Ngài: “ Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con cái Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ, chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” ( 1Ga 3,1-2 ).
2. Chúa Thánh Thần giải thoát chúng ta khỏi luật của tội và sự chết
     Chúa Thánh Thần là luật nội tâm và tối thượng của người kitô hữu. Luật này không phải là khắc trên bia đá nữa, nhưng được khắc trong lòng chúng ta: “ Rõ ràng anh em là bức thư của Đức Kitô được giao cho chúng tôi chăm sóc, không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người” ( 2Cr 3,3 ). Trong Chúa Thánh Thần, chúng ta được giải thoát khỏi luật của tội và sự chết: “ Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Giêsu Kitô, đã giải thoát tôi khỏi luật và sự chết” ( Rm 8,2 ). Qua luật mới này, người kitô hữu là người được mời gọi tới sự toàn vẹn của tình yêu và tự do. Chúa Thánh Thần mang lại tự do đích thực trong tâm hồn người tín hữu. Vì ở đâu có Chúa Thánh Thần thì ở đó có tự do ( 2Cr 3,14 ).
3. Hoa trái của Chúa Thánh thần trong đời sống người kitô hữu
     Nếu đời sống của người kitô hữu được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần thì sẽ nảy sinh và mang lại nhiều hoa trái trong cuộc sống. Những hoa trái đó giúp chúng ta sống tốt tương quan đối với Thiên Chúa, đối với tha nhân và đối với chính mình.
9 hay 12 hoa trái của Chúa Thánh Thần? Con số khác nhau đôi khi được coi là mục tiêu tranh cãi giữa người Công giáo và Tin lành, tuy vậy, con số không phải là điểm quan trọng.
Trong thư gửi tín hữu Galata thánh Phaolô đã liệt kê cụ thể các “hoa trái” của Chúa Thánh Thần : “Còn hoa trái của Thần Khí là tình yêu, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân từ, lương thiện, trung tín, hiền hoà, tự chủ. Không có luật nào chống lại những điều như thế” (Gal 5, 22-23).
     Sách Giáo Lý Giáo hội Công giáo định nghĩa hoa trái của Chúa Thánh Thần là “những điều thiện hảo mà Chúa Thánh Thần hình thành trong chúng ta như hoa quả đầu mùa của vinh quang vĩnh cửu” (GLHTCG, số 1832). Về cơ bản, nếu chúng ta sống “cuộc sống của Thánh Thần”, chúng ta sẽ thấy được những hoa trái này trong cuộc sống của mình.
     Hầu hết các bản dịch đoạn trích dẫn trên chỉ liệt kê 9 loại hoa trái, trong khi bản Vulgata tiếng Latinh đưa ra một danh sách gồm 12 loại, thêm vào đó là khiêm nhu, quảng đại và thanh khiết.
     “Hoa trái của Thần Khí là bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nại, nhân từ, lương thiện, hiền hòa, khoan dung, trung tín, khiêm nhu, tiết độ và thanh khiết. Không có luật nào chống lại những điều như thế” (Gal 5, 22-23 ).
     Theo từ điển bách khoa Công giáo, “không còn nghi ngờ về việc danh sách 12 này. Ba trong số này bị bỏ sót trong một số bản văn tiếng Hylạp và Latinh khác nhau, không được hiểu cách hạn chế theo mặt chữ, nhưng theo nguyên tắc căn bản của ngôn ngữ kinh thánh, nó có thể mở rộng hơn bao gồm tất cả những hành vi tương tự”.
      Với suy nghĩ trên, Giáo hội Công giáo đã chấp nhận những hoa trái “phụ thêm” này và đưa chúng vào trong Giáo lý: “Hoa trái của Thần khí là những điều thiện hảo mà Chúa Thánh Thần hình thành trong chúng ta như hoa quả đầu mùa của vinh quang vĩnh cửu. Truyền thống của Giáo hội kể ra 12 hoa trái của Thánh Thần: “Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nại, nhân từ, lương thiện, hiền hòa, khoan dung, trung tín, khiêm nhu, tiết độ và thanh khiết” (Gal 5,22-23).
      Thánh Tôma Aquinô bảo vệ danh sách mở rộng này trong Tổng luận Thần học của mình : “Con số 12 hoa quả được liệt kê bởi thánh Tông đồ là phù hợp : và chúng ta có thể thấy hình ảnh đó trong số 12 hoa trái mà sách Khải huyền đã nói: “giữa hai nhánh sông, có cây Sự Sống sinh mười hai trái” ( Kh 22,2). Thánh Augustinô nói về đoạn ( Gl 5,22-23) rằng : “Vị tông đồ không có ý dạy chúng ta biết có bao nhiêu hoa trái [công việc của xác thịt hay hoa trái của Thần khí], nhưng chỉ cho chúng ta thấy rằng những điều trước cần phải tránh và những điều sau cần được tìm kiếm.
9 hoa trái của Chúa Thánh Thần
Bác ái: Yêu thương mọi người, ngay cả kẻ thù.
Hoan lạc: Niềm vui đích thực phát xuất từ Chúa, vượt trên mọi hoàn cảnh.
Bình an: Sự thanh thản nội tâm, không bị xáo trộn bởi lo âu hay sợ hãi.
Nhẫn nhục: Sức mạnh để chịu đựng gian khổ, thử thách một cách kiên nhẫn.
Nhân hậu: Lòng tốt, tử tế đối với người khác.
Từ tâm: Sự dịu dàng, quảng đại và giàu lòng trắc ẩn.
Trung tín: Sự chân thành, đáng tin cậy trong mọi mối quan hệ và cam kết.
Hiền hòa: Sự dịu dàng, khiêm nhường trong cách cư xử.
Tiết độ: Khả năng kiểm soát bản thân, tránh thái quá trong mọi sự.
a. Đối với Thiên Chúa
     Chính nhờ Chúa Thánh Thần mà con người có được tình yêu tuyệt đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa trở thành điểm quy hướng mọi tình cảm và lựa chọn của người kitô hữu. Chúa Thánh Thần làm cho con tim của người kitô hữu không bị hoen ố và bảo vệ người tín hữu khỏi mọi hình thức thờ ngẫu tượng và bất trung với Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần làm cho tâm hồn người tín hữu luôn được bình an và chan chứa niềm vui trong mọi gian nan thử thách của cuộc sống. Ngài giúp họ luôn biết hướng tất cả mọi sự và biến cố, gánh nặng cuộc đời về tình yêu vô biên của Thiên Chúa, biết đón nhận tất cả trong sự phó thác và tin tưởng vào Thiên Chúa.
b. Đối với tha nhân
     Chúa Thánh Thần giúp người tín hữu có lòng từ bi, nhân hậu, muốn điều tốt cho người khác. Đồng thời, Ngài cũng giúp họ biết chia sẻ, cảm thông với người khác gặp cảnh buồn vui, đồng cảm với những vấn đề của họ và tìm cách giúp họ. Chúa Thánh Thần hoạt động trong những hành động bác ái và phục vụ cụ thể mà không cần đáp trả và không cần biết đến. Chúa Thánh Thần còn giúp chúng ta biết sống kiên nhẫn với tha nhân, biết mở con tim của mình ra để đón nhận anh chị em đồng loại như hình ảnh của Thiên Chúa. Điều này thể hiện trong việc đón tiếp người khác với sự tôn trọng và lắng nghe, không thành kiến cũng không xét đoán bề ngoài.
c. Đối với chính mình
     Chính Chúa Thánh Thần làm cho mỗi người chúng ta ý thức về chính mình cách đúng đắn và biết hoà hợp những khả năng, tình cảm, hành động của mình với ơn Chúa ban. Chúa Thánh Thần giúp mỗi người chúng ta biết trung thành với chính mình, biết rõ mình, biết tin vào mình và tin vào ơn Chúa. Từ sự trung thành đó, mà chúng ta biết làm chủ bản thân mình. Chúa Thánh Thần làm cho người tín hữu có một con tim hiền lành và khiêm nhường, giống trái tim Chúa Giêsu, biết cảm thông và nhân ái với người khác.
4. Những ân sủng và đặc sủng được ban bởi Chúa Thánh Thần
     Chúa Thánh Thần ban cho con người những ân huệ cần thiết để giúp con người đạt tới ơn cứu độ. Dưới tác động của ơn Chúa Thánh Thần, con người hành động và thực hiện những hành vi phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa và với chân lý của Ngài.
a. Những ân sủng của Chúa Thánh Thần
     Chúa Thánh Thần là Đấng ban tặng các ân sủng của Thiên Chúa cho người tín hữu. Nhờ đó họ sống và hành động theo ý Thiên Chúa và không còn chỉ dựa trên những khả năng nhân loại. Chúa Thánh Thần ban cho các tín hữu vô vàn ân sủng của Ngài, giúp họ sống đời kitô hữu cách trọn vẹn. Trong đó có bảy ơn của Chúa Thánh Thần, được Kinh Thánh nói đến trong sách tiên tri Isaia đó là: ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết, ơn thông minh, ơn lo liệu, ơn mạnh sức, ơn đạo đức và ơn kính sợ Thiên Chúa.
     – Ơn khôn ngoan : người khôn ngoan là người có nhiều kinh nghiệm, Bí tích Thêm Sức làm cho chúng ta trở nên một con người có nhiều kinh nghiệm thiêng liêng, kinh nghiệm về tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa.
     – Ơn hiểu biết : nhờ Thánh Thần mà chúng ta được hiểu biết sâu xa về Thiên Chúa, nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa bằng đức tin. Thánh Thần đưa dẫn chúng ta vào tất cả sự thật (Ga 16,13), nghĩa là vào trong mầu nhiệm Chúa Kitô, Đấng mạc khải Thiên Chúa.
     – Ơn phán đoán ( lo liệu ) : nhờ Chúa Thánh Thần mà người kitô hữu có thể nhận định về các biến cố xảy ra, về các thực tại lịch sử và nhân văn, về xã hội và con người… đúng với quan điểm của Thiên Chúa, phù hợp với cái nhìn của Tin Mừng.
     – Ơn tri thức ( hiểu biết ): là ơn biết ứng dụng sự hiểu biết vào các hành động cụ thể trong đời sống ; là ơn biết sống đạo theo như ý muốn của Chúa Giêsu.
     – Ơn sức mạnh : Chúa Thánh Thần là sức mạnh cho đời sống kitô hữu của chúng ta. Nhờ Người mà chúng ta có thể trung thành với Thiên Chúa đến cùng. Nhờ Người, chúng ta mới có thể đứng vững trong thử thách. Nhờ Chúa Thánh Thần chúng ta mới có đủ can đảm làm chứng cho Chúa Kitô trong đời sống.
     – Ơn đạo đức : nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta mới trở nên giống Chúa Giêsu, người con hiếu thảo với Chúa Cha, luôn tin tưởng và yêu mến Chúa Cha, luôn muốn đẹp lòng Chúa Cha, luôn bận tâm thực hiện ý muốn của Chúa Cha.
     – Ơn kính sợ Chúa : chúng ta phải là những con người thờ phượng Thiên Chúa trong Thánh Thần và chân lý. Theo Cựu Ước, kính sợ là đầu mối sự khôn ngoan. Kính sợ Thiên Chúa, chúng ta không bao giờ dám coi thường Thiên Chúa. Kính sợ còn là một cách kinh nghiệm sự siêu việt và vĩ đại khôn dò của Thiên Chúa.
b. Những đặc sủng của Chúa Thánh Thần
Chúa Thánh Thần ban những đặc sủng cho những người Ngài muốn trong những hoàn cảnh cụ thể và trong các tình huống đặc biệt. Các đặc sủng mà Chúa Thánh Thần ban thì rất đa dạng và khác nhau, nhưng chỉ có một mục đích là xây dựng Giáo Hội và để thi hành sứ vụ của Giáo Hội. Các đặc sủng về lời nói: ơn ngôn ngữ, ơn tiên tri, ơn giải thích ( 1Cr 14,13 ); Đặc sủng về công việc: ơn chữa lành, ơn làm phép lạ, ơn lãnh đạo, ơn quản trị, ơn bác ái; Đặc sủng về hiểu biết: ơn phân định các thần khí lành dữ, ơn thấu hiểu các bí nhiệm.
Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống
      Trong Kinh Thánh ta chỉ thấy rõ Chúa Thánh Thần hiện diện một vài lần dưới những hình ảnh khác nhau : hơi thở, gió, lửa, nước, chim câu… Đây chỉ là vài biểu tượng mà con người thấy để nhận biết Ngài, nhưng không một hình ảnh nào diễn tả được đầy đủ mạc khải của Thiên Chúa. Một khi người ta nhận được các tác động, hiệu quả của Chúa Thánh Thần thì lúc đó chúng ta biết rằng Ngài hiện hữu.
Chúa Thánh Thần là hơi thở
     Khi mới chào đời, yếu tố cần thiết nhất cho cuộc sống con người là hơi thở. Một khi không thở được, lập tức đứa trẻ chết ngay và người ta gọi nó là đứa chết ngạt. Nó sẽ không có khai sinh, không có tên gọi và bị xem như không hiện hữu trên đời. Chính nhờ hơi thở mà người ta phân biệt người sống với người chết. Còn thở là còn sống, tắt thở là chết. Hơi thở quan trọng biết bao đối với cuộc sống con người.
      Trong Kinh Thánh, Thần Khí được ví như là hơi thở, là sự sống xuất hiện ngay từ khi vũ trụ được tạo thành. “Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước” (St 1,2). Chính nhờ Thần Khí này mà con người đầu tiên trở thành sinh vật có sự sống. Khi dựng nên A-đam Thiên Chúa đã thở hơi vào thân xác vừa được nhào nặn từ bùn đất, lập tức thân xác ấy sống động ( St 2,7). Hơi thở đến từ Thiên Chúa và sẽ trở về với Người khi con người nhắm mắt xuôi tay. Sinh khí mà rút lại thì mọi loài sống động sẽ chết và trở về cát bụi ( Tv 103,29). Hơi thở hay sinh khí không đối lập với thân xác hay những gì là vật chất, cũng không ở ngoài thân xác, nhưng là chính sự sống của thân xác hay cơ thể. Tuy nhiên, con người không thể làm chủ được hơi thở của mình, cũng không thể giữ nó mãi trong mình, vì hơi thở chính là đặc tính của Thiên Chúa. Đặc tính này diễn tả cái mà nhờ đó thế giới trở nên sinh động, có sự sống và cũng tạo ra những khả năng nơi con người : kẻ có thể làm tông đồ, kẻ được ơn khôn ngoan để giảng dạy, kẻ được ơn nói tiếng lạ… (1Cr 12, 4-11). Đối với Thiên Chúa, hơi thở của Ngài là một biểu tượng khả giác về sự hiện diện và quyền năng của Ngài, quyền mà Thiên Chúa dùng để phát ra lời được biểu hiện trong hơi thở. Hơi thở của Ngài là “nguồn” của mọi loài. Chúng sống được là nhờ sinh khí của Ngài (St 2,7 ; 6,17 ; Hc 3, 9-21).
     Theo quan niệm Cựu Ước thì “thần khí” chưa phải là một ngôi vị, vì nó là một nguyên lý hoạt động. Nó thuộc về Giavê, và có thể được thông ban cho các sinh vật, nhưng không bao giờ biến thành một yếu tố trong cơ cấu của các sinh vật ấy.
     Sang Tân ước, Thần Khí mới là Ngôi Ba Thiên Chúa, là tác động đầy quyền năng của Thiên Chúa. “Thần Khí sẽ ngự xuống trên Bà và quyền năng Đấng tối cao sẽ rợp bóng trên Bà” (Lc 1,35). Một tác động rõ ràng và quan trọng nhất là việc Đức Giê-su Phục Sinh. “Người đã chịu đóng đinh vì mang thân phận yếu hèn, nhưng nay Người đang sống nhờ quyền năng của Thiên Chúa” ( 2Cr 13,4 ; Ep 1,18-22). Quyền năng lớn lao ấy chính là Thần Khí. Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết cũng sẽ dùng Thần Khí của Người ngự trong anh em, mà làm cho thân các anh em được sự sống mới ( Rm 8,11 ).
     Như thế, hơi thở, gió giúp ta hướng đến Chúa Thánh Thần là Đấng đang sống trong mỗi người và mỗi sinh vật. Ngài không chỉ hiện hữu và giúp ta trong đời sống thể lý, mà còn hoat động và giúp mỗi người cảm nhận sự sống thiêng liêng của Thiên Chúa. Chính nhờ Thần Khí mà người Ki-tô hữu mới hiểu được Thiên Chúa : “khi Đấng bảo trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha Người sẽ làm chứng về Thầy” ( Ga 15,26). Cũng chính từ Thần Khí này mà chúng ta được sinh ra làm con Thiên Chúa. Nhờ lòng tin và nhờ phép rửa mà người Ki-tô được Thiên Chúa trao ban Thần Khí. Chính sự hiện diện của Thần Khí trong tâm hồn và cuộc đời các tín hữu, khiến họ thành những thụ tạo mới, có các liên hệ với Thiên Chúa Ba Ngôi.
Chúa Thánh Thần nguồn sống của người tín hữu
     Khi nói Thiên Chúa gởi Thần Khí của Ngài đến ngự trong lòng tín hữu, có ý ám chỉ chiều kích thâm sâu nơi mỗi con người được đánh động và được biến đổi. Do đó tín hữu trở thành đền thờ của Chúa Thánh Thần : “Nào anh em đã chẳng biết rằng anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em đó sao?” (1Cr 3,16).
Chính sự hiện diện của Chúa Thánh Thần như hoa trái của lòng tin vào Đức Giê-su ; đồng thời mạc khải của Ngài có hệ lụy vô cùng lớn lao trong đời sống tín hữu. Như vậy, có thể nói rằng cuộc đời tín hữu được bắt nguồn từ Thánh Thần Thiên Chúa và họ được liên kết mật thiết với Ngài. Ngài sống và hoạt động trong họ.Hồng ân cao quí nhất mà ta nhận được từ Thiên Chúa là Ngài tự thông ban sự sống cho ta, giúp ta được thông dự vào chính sự sống của Ngài. Chính nhờ thanh tẩy, ta trở nên nghĩa tử, được hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa. Ba Ngôi đến ngự trong ta ( Ga 16,23). Một đời sống mới được hình thành, đó là một đời sống thần linh.Chính Thiên Chúa ban sự sống thân linh cho ta qua Đức Giê-su Con của Ngài. Đức Giê-su đến để ta được sống và sống dồi dào ( Ga10,10). Ngài hiến thân để cứu chuộc và thánh hóa con người ( Ga 17,19). Ngay khi nhìn ngắm gương Đức Ki-tô, tín hữu sẽ được hoạt động của Chúa Thánh Thần biến đổi và sẽ đi từ vinh quang này đến vinh quang khác ( 2Cr 3,18).
     Sự kiện Thần Khí Thiên Chúa và ta có sự sống của Ngài, đã tạo ra một sự hiệp thông trong đời sống thần linh. Sự sống đó gọi là ơn thánh sủng. Ơn này là một thực tại siêu nhiên, là sự hiện diện của đời thần linh trong ta.Theo thánh Phaolô ( Rm 8,5-13) đời sống của người Kitô hữu là tất cả những gì Thần Khí khởi sự trong đời sống của họ. Ngài là Thần Khí của Cha cũng là Thần Khí của Con. Ngài ở trong mỗi Kitô hữu. Ngài là nguồn mạch sự sống thiêng liêng trong họ và cho họ. Ngay khi hiện xuống, Thánh Thần Thiên Chúa đã đến để bảo toàn, xác tín và nội tâm hóa tất cả các công trình của Đức Kitô. Tất cả những gì nhìn thấy được khi xưa Đức Kitô đã làm, thì từ khi Người lên trời, đều được đưa vào nội tâm hóa, tức là vào lãnh vực thiêng liêng vô hình của Thánh Thần. Thực ra, trong lãnh vực bí tích, qua những dấu chỉ bề ngoài, sự hoạt động của Thánh Thần Thiên Chúa được ban xuống và được mạc khải trong những lời cầu nguyện hay là trong mô thức của bí tích. Thực vậy, đời sống của người Kitô hữu bắt đầu bằng các bí tích và thường kết thúc cũng bằng bí tích. Nhờ các bí tích mà Chúa Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ trong đời sống người Kitô hữu.
     Trong Bí tích Rửa tội, con người được tái sinh bởi nước và Thánh Thần ( Ga 3,5). Nhờ mầu nhiệm tử nạn Phục Sinh của Đức Kitô, con người được đồng hóa với bản tính Thiên Chúa trở nên con của Ngài. Sự kiện tái sinh nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần minh chứng người Kitô hữu đã được gia nhập vào mầu nhiệm Ba Ngôi và trở thành đền thờ của Thánh Thần. Sách giáo lý Công Giáo dạy : Bí Tích Thanh tẩy là nền tảng của toàn bộ đời sống người Kitô hữu, của sự sống trong Thần Khí và là cửa ngõ dẫn vào các bí tích khác. Nhờ bí tích thanh tẩy chúng ta trở nên chi thể của Đức Ki-tô đồng thời được tháp nhập vào Hội Thánh và được chia sẻ sứ vụ của Người (GLHTCG, số 1213). Như vậy trong bí tích thanh tẩy, Chúa Thánh Thần thực hiện một sự biến đổi tận gốc rễ, Ngài làm cho họ trở thành con người mới nhờ được tái sinh trong Đức Ki-tô. Như thánh Phao-lô nói : “Phàm ai ở trong Đức Ki-tô đều là thọ tạo mới” ( 2Cr 5,17). Cũng trong bí tích thanh tẩy người tín hữu trở nên công chính trong Đức Ki-tô và nhờ Thánh Thần của Thiên Chúa ( 1Cr 6,11). Đây là một sự giải thoát khỏi tội lỗi để được một đời sống mới. Cuối cùng, để chứng thực cho đời sống mới của người Kitô hữu, Thánh Thần ghi dấu ấn thiêng liêng trên họ. Dấu ấn này không thể phai mờ. “Chính Thánh Thần là dấu ấn ghi trên anh em ( Ep 4,30).
     Trong Bí tích Thêm sức, người Ki-tô hữu được tái sinh, lớn lên trong sự hiểu biết và để chuẩn bị cho họ bước vào đời với những nguy hiểm, những khó khăn. Nhờ bí tích này người tín hữu được tham dự vào mầu nhiệm hiện xuống. Và nhờ mầu nhiệm này người Kitô hữu được đánh dấu bước khởi đầu của mình. Trong Bí tích Thêm sức, Thánh Khí liên kết những người chịu phép rửa với Đức Kitô. Và nhờ việc đặt tay, Chúa Thánh Thần ngự xuống và chiếm hữu trọn vẹn người tín hữu. Từ đây Chúa Thánh Thần sống và hoạt động trong họ. Để với lòmg can đảm và nhiệt thành phát xuất từ Thánh Thần, họ trở nên chứng nhân đích thực của Chúa Kitô ( Lc 24, 48-49).
     Bí tích Thánh thể là trung tâm đời sống người Kitô hữu. Một khi người tín hữu thành con Thiên Chúa nhờ Bí tích Thanh tẩy và được sức mạnh để làm chứng cho đức tin của mình, nhờ Bí tích Thêm sức con người vẫn không thể lớn lên và bền vững trong cương vị đó, nếu không được sức mạnh của Đức Kitô sống trong và nuôi dưỡng họ. “Ai không ăn thịt Ta và uống máu Ta sẽ không có sự sống đời đời” ( Ga 6,55).Trong bí tích này Hội Thánh kêu xin Thánh Thần Thiên Chúa đến để Ngài thánh hoá bánh và rượu trở nên Mình và Máu Đức Kitô và rồi Ngài cũng thánh hoá người Kitô hữu, qui tụ họ lại trong một thân mình duy nhất của Đức Kitô. Cũng như xưa mầu nhiệm Nhập Thể đã được thực hiện nhờ quyền năng Thánh Thần, thì nay nhờ bí tích Thánh Thể, tức là cuộc sinh ra hằng ngày của Đức Kitô trên bàn thờ và sự tháp nhập của người Kitô hữu vào thân mình Đức Kitô cũng được thực hiện nhờ Thánh Thần duy nhất đó.
     Bí tích Hòa giải : Trường hợp vì yếu đuối phạm tội mất lòng Thiên Chúa, nếu biết ăn năn và đi làm hòa với Thiên Chúa, thì người Kitô hữu sẽ được thứ tha nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh thần. Lúc này người tín hữu tìm lại được sự thăng bằng và bình an thiêng liêng. Nếu trước đây đã mất ơn thánh sủng do phạm tội thì giờ đây được ban lại và còn làm tăng thêm các ơn ích khác nữa.Lý do liên kết Chúa Thánh thần với việc tha tội chính là vì Chúa Thánh thần là Đấng vạch trần tội lỗi thế gian ( Ga16,18-21). Và Ngài cũng là Đấng Bào Chữa, Đấng An Ủi ( Ga 15,26 ; 16,7). Ngài ban cho tội nhân ơn sám hối để được sự sống đời đời. Tội lỗi chính là sự chết ( Rm 6, 23 ; 7,11), còn Thánh Thần là Đấng ban sự sống (x. Ga 6,63).Chúa Thánh Thần còn là sức mạnh cứu độ, thuyết phục con người nhận ra mình là kẻ có tội và thúc dục họ hoán cải ( Ga 16,8). Thánh Thần không những ban ơn tha tội, mà Ngài chính là ơn tha tội. Không đón nhận ơn tha tội là hoàn toàn đóng kín với Chúa Thánh Thần ( Mc 3,39) và như thế là một sự sụp đổ toàn diện.
     Bí tích Xức dầu : Trong nghi thức xức dầu đã nêu rõ tác động quan trọng của Chúa Thánh thần là giải thoát bệnh nhân khỏi tội lỗi và nâng đỡ họ trong những cơn đau của bệnh tật. “Nhờ việc xức dầu thánh này và nhờ lòng từ bi nhân hậu của Chúa, xin Chúa dùng ơn Thánh Thần mà giúp đỡ con, để Ngài giải thoát con khỏi tội lỗi, cứu chữa con và làm cho con nên thuyên giảm”( Công thức xức dầu bệnh nhân). Trong bí tích sức dầu, sức mạnh của Thánh Thần làm cho người bệnh thông phần vào cuộc tử nạn của Đức Kitô và sự phục sinh của Người. Bệnh nhân được Thánh Thần thúc đẩy dâng những đau khổ của thân xác để kết hiệp với cuộc tử nạn của Đức Kitô. Thân xác người bệnh được xức dầu là đền thờ Chúa Thánh Thần, đã nhiều lần lãnh nhận lương thực trường sinh là Mình Máu Đức Kitô sống động nhờ Thánh Thần và có khả năng làm cho sống.
     Bí tích Truyền chức : Nhờ bí tích này Thiên Chúa đã đóng ấn của Ngài trên tiến chức. Dấu ấn này không thể xoá nhòa được nhờ việc xức dầu Thánh Thần trong Bí tích Truyền chức. Nhờ dấu ấn này người Kitô hữu được tham dự vào chức tư của Đức Kitô và là thành phần của Hội thánh. Việc đồng hình đồng dạng với Đức Kitô là do Chúa Thánh Thần thực hiện thì không thể tẩy xoá và được tồn tại mãi trong người Kitô hữu như một trạng thái cho ân sủng, như một lời hứa và bảo đảm có sự phù trì của Thiên Chúa, như là một ơn gọi lo việc phụng thờ Thiên Chúa và phục vụ Hội thánh ( GLHTCG, số 1121).
     Bí tích Hôn phối : Trong lời kêu cầu của Bí tích Hôn phối, hai vợ chồng nhận đuợc Chúa Thánh Thần như mối hiệp thông tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội thánh. Chính Người là ấn tín của giao ước giữa hai người, là nguồn mạch đầy tình yêu của ho, là sức mạnh cho sự trung thành bền vững của hai vợ chồng. ( GLHTCG, số 1624). Chính Thánh Thần, qua Bí tích Hôn phối ban cho vợ chồng một trái tim mới và làm cho nam nữ có khả năng yêu thương nhau như Đức Kitô yêu thương chúng ta. Tình yêu này đến từ Thánh Thần và làm cho có được sự hiệp nhất giữa vợ chồng. Cũng chính Thánh Thần là Đấng chuẩn bị dẫn đưa những người đính hôn đi đến hôn nhân, cũng chính Ngài đồng hành với vợ chồng và gia đình suốt cuộc đời. Thánh Thần làm cho tình yêu vợ chồng ngày càng lớn lên và ban cho họ thành một gia đình Kitô hữu biết sống và rao truyền đức tin của mình.
     Vậy, gia đình Kitô hữu sinh ra từ Thánh Thần. Đó là hồng ân của Thánh Thần, làm cho đôi bạn nên hiến thánh. Gốc rễ cơ bản nhất làm nảy sinh cộng đoàn tại gia không phải là tình yêu của các thành viên cho bằng là tình yêu của chính Thánh Thần Thiên Chúa, Ngài là tình yêu làm cho nên một.
d. Chúa Thánh thần và các ân huệ của Ngài
      Người tín hữu được thanh tẩy đã nhận được ơn thánh sủng và các nhân đức thiên phú, nhưng họ vẫn chưa lấy lại được toàn bộ trạng thái ban đầu mà Ađam xưa kia đã đánh mất, nghĩa là ngay cả khi chịu phép rửa tội người Kitô hữu vẫn có thể suy yếu, sai lầm và nhu nhược, chính vì còn mang trong mình vết thương nguyên tội. Những hồng ân Thiên Chúa ban trong các bí tích tuy là những đặc ân lớn lao siêu việt, nhưng là ban xuống trong trí khôn và trong lòng muốn của con người đã bị suy yếu. Thực ra với những ơn của Thiên Chúa qua các bí tích, con người vẫn có thể bước đi trên con đường thánh hóa, nhưng những bước đi đó còn chậm chạp, hữu hạn và theo những phương cách của con người bị sa ngã. Chính vì thế mà người Kitô hữu cần đến một sự thúc đẩy từ bên ngoài, một sự thúc đẩy mạnh mẽ để người Kitô hữu đã được siêu nhiên hóa nhờ các bí tích bước đi những bước mau lẹ trên đường trọn lành. Sau khi Đức Kitô về trời, quyền can thiệp vào đời sống thánh hóa của người Kitô hữu là Chúa Thánh Thần với những ân huệ của Ngài. Xét một cách tổng quát những ân huệ Chúa Thánh Thần mà chúng ta nghiên cứu ở trên là nhằm thánh hóa Hội Thánh xét như một cộng đồng. Còn bảy ơn mà chúng ta sắp nói đến thì liên quan đến từng người Kitô hữu. Các ân huệ này biểu lộ sự hiện diện và tác động của Chúa Thánh Thần trong mỗi người Kitô hữu.
     Bảy ân huệ mang theo các đặc tính là những nguyên nhân tác động siêu nhiên. Khi đã được ban xuống trong tâm hồn tín hữu sạch tội, ơn Thánh Thần sẽ dần dần phát triển và gia tăng thêm mãi. Vì mục đích của bảy ơn là họa lại trong chúng ta hình ảnh trung thực của Chúa Kitô : ơn thông minh và hiểu biết của Salômôn, ơn khôn ngoan và mạnh mẽ của Đavít, sự hiểu biết và lòng kính sợ Đức Chúa của các Tổ phụ và các Ngôn sứ. “Sự tràn đầy này của ơn Chúa Thánh Thần không chỉ ở lại trên Đấng Mêsia mà phải thông ban cho toàn dân Kitô giáo” (GLHTCG, số 1287).
     Xét về một phương diện nào đó, thì bản ngã của Kitô hữu vẫn còn, nghĩa là vẫn bảo toàn sự tự do của mình, nhưng cũng từ lúc được thấm nhuần sự hoạt động Thần Khí Thiên Chúa, bản ngã người Kitô hữu trở nên mềm mại dễ dạy dưới sức thiêng liêng và sẵn sàng uốn mình theo sự hướng dẫn của bảy ơn Thánh Thần: Ơn khôn ngoan, giúp ta gắn bó với Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc. Ơn thông hiểu, ban cho ta sự hiểu biết sâu xa các chân lý đức tin. Ơn lo liệu, ban cho ta biết chọn lựa con đường nào hợp ý Thiên Chúa hơn và ngoan ngoãn để cho Chúa hướng dẫn. Ơn hiểu biết, ban cho ta biết phán đoán các giá trị của các thụ tạo theo ánh sáng đức tin. Ơn đạo đức, ban cho ta lòng tôn thờ Thiên Chúa với lòng con thảo và liên kết với mọi người như anh em của cùng một Cha trên trời. Ơn can đảm (sức mạnh), giúp vượt thắng mọi khó khăn hoặc chịu đựng những đau khổ bằng sức mạnh Chúa ban. Ơn kính sợ Chúa, giúp tránh tội lỗi và loại bỏ những quyến luyến của cải trần gian khi nó làm ta mất lòng tôn kính, yêu mến Chúa.
     Trong tất cả bảy ơn, dù dưới hình thức nào đi nữa, thì cũng có một chủ nhân duy nhất hoạt động. Chính là Chúa Thánh Thần, Ngài dùng những ân huệ khác nhau để ban ơn cho mỗi người tín hữu, Ngài đi vào tận đáy lòng họ để lôi cuốn, sửa trị, ổn định. Chính Ngài dùng những ơn để dọn sẵn tâm hồn tín hữu và làm cho tâm hồn này thành đền thờ Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần ở trong họ và họ được kết hợp với Ba Ngôi cách thâm sâu: “Để tình Cha đã yêu thương Con, ở trong họ, và Con cũng ở trong họ nữa” (Ga 17,24).
g. Chúa Thánh Thần nơi người kitô hữu
     Chúa Thánh Thần hoạt động nơi mỗi người Kitô hữu không những qua các bí tích, qua bảy ơn thánh sủng mà Ngài còn hoạt động trong các sinh hoạt thường ngày của họ nữa. Cuộc sống hàng ngày của mỗi người Kitô hữu tuy có những khác biệt về hoàn cảnh sống, lúc vui lúc buồn, lúc thành công lúc thất bại, nhưng chung qui đời sống của họ là kết hợp với Thiên Chúa Ba Ngôi bằng lời cầu nguyện và bằng chính cuộc sống chứng tá của mình. Chúa Thánh Thần làm cho người Kitô hữu trở về và sống đúng với căn tính của mình. Căn tính của họ là hiệp thông với Thiên Chúa bằng chính lời cầu nguyện. Họ được kêu gọi đến với Thiên Chúa là “Cha chúng con”, đồng thời hiệp thông với mọi người và thực hiện các đòi hỏi của đức tin trong tình nghĩa anh em tương ái lẫn nhau. Lúc này là lúc mà người Kitô hữu được kêu mời để làm chứng cho Tin Mừng hơn nữa. Vì thế giới hôm nay đang rơi vào vòng tục hóa và xa rời Kitô giáo. Để làm được điều này người Kitô hữu phải ý thức nhìn nhận rằng chính Chúa Thánh Thần đang sống trong họ, Ngài cầu nguyện trong họ và cho họ, đồng thời Ngài cũng thôi thúc, chỉ dẫn cho họ biết sống và rao truyền chân lý đức tin của mình.
Chúa Thánh Thần, Đấng sửa trị tâm linh.
      Xin Thánh Thần Thiên Chúa gội rửa những gì dơ bẩn, làm phong phú những gì khô cằn, chữa lành những gì mang thương tích, uốn nắn những gì cứng cỏi, sưởi ấm những gì giá lạnh và đem những gì sai trái trở về nẻo chính đường ngay (Veni, créator spiritus).
     Trong thế giới hôm nay, những dơ bẩn, những phong hóa suy đồi và lệch lạc luân lý không chỉ được trưng bày qua phim ảnh, sách báo, mà nó còn được ca tụng quảng cáo như là giá trị cần thiết cho cuộc sống con người hôm nay. Hơn bao giờ hết, con người hôm nay khoe khoang cuộc sống nhơ nhớp của mình; thậm chí họ còn cổ võ phong trào suy đồi đó nữa. Loài người hôm nay cũng giống như khung cảnh sa đọa tội lỗi thời ông Noê, trước khi nước hồng thủy hủy diệt. Tại vì con người độc ác tham gia vào những tội lỗi dơ bẩn, đến độ Thiên Chúa như đã hối hận vì tạo dựng nên con người và Ngài đã dùng nước hồng thủy để rửa mặt đất. Hậu quả đầu tiên của tình trạng sa đoạ tội lỗi là sự khô cằn, chai lỳ lương tâm. Trái tim và cuộc sống con người trở thành cằn cỗi vì thiếu tình thương, do đó tâm hồn con người chẳng khác nào đống xương khô ( Ed 37). Tuy nhiên, như xưa Thiên Chúa đã dùng Thần Khí của Ngài làm cho đống xương đó sống lại thế nào, thì nay Ngài cũng dùng Thánh Thần của Ngài làm cho nhân loại bị sự dữ và tội lỗi giết chết được biến đổi thành người mới, thành con cái Thiên Chúa.
     Thần Khí Thiên Chúa cũng là Đấng uốn nắn tâm hồn, làm cho chúng ta trở nên con người cởi mở, mềm dẻo, dễ dạy, khiêm nhu. Thần Khí làm cho chúng ta có khả năng nghe Lời, đón nhận và thực thi Lời. Thần Khí khai mở tinh thần chúng ta cho sự hiện diện chân lý. Thần Khí là sức mạnh, là hiệu năng chiến thắng sự ươn lười, khuynh hướng dễ dãi buông trôi. Thần Khí lôi kéo chúng ta đi tới, trải qua các chặng đường cuộc sống, bất chấp mọi chông gai hay chướng ngại, để chúng ta có thể vượt qua cùng với Đức Ki-tô hành trình hướng về Thiên Chúa.
     Sau khi được Chúa Thánh Thần thanh tẩy và sửa trị, Ngài tiếp tục đưa con người vào trong chính đời sống thiêng liêng của Ba Ngôi Thiên Chúa. Thực ra con người chỉ là hữu thể “thiêng liêng” trong Thần Khí của Thiên Chúa, Đấng là nguyên lý sự sống của con người. Ta có thể nói rằng, nhờ sự uốn nắn của Thánh Thần mà lương tâm con người trở thành “thiêng liêng”. Như các nhà thần bí Kitô giáo quả quyết rằng : “Thánh Thần là linh hồn của linh hồn con người”. Tuy nhiên điều này không được làm ta nghĩ rằng có sự đồng nhất giữa Thánh Thần và con người.
     Dưới ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần, con người nội tâm hoá, nghĩa là thiêng liêng, trưởng thành và trở nên mạnh mẽ hơn. Nhờ sự hiệp thông thần linh ấy, Thần Khí làm cho con người có khả năng biết được những gì thuộc về con người, gặp được Thần Khí là Đấng dò thấu cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa. Trong Thần Khí ấy, cũng là ân huệ vĩnh cửu, Ba Ngôi tự cởi mở mình ra với con người, với thần trí con người. Do ân huệ hữu hiệu Thần Khí ban, con người đi vào một đời sống mới, con người được dẫn đưa vào thực tại siêu nhiên của chính sự sống thần linh và trở thành một nơi cho Thánh Thần ngự, một đền thờ sống động của Thiên Chúa.
Chúa Thánh Thần trong đời sống cầu nguyện.
     Cầu nguyện là một thái độ của một tâm hồn con người hướng đến Thiên Chúa. Lời nói và cử chỉ trong lời cầu nguyện chỉ là phương thế diễn tả tâm tình con người. Chính tâm tình bên trong mới quan trọng, khi lòng ta hướng về Thiên Chúa và gặp Ngài là chúng ta cầu nguyện rồi. Khi chúng ta được Thiên Chúa xức dầu bằng Thánh Thần, Thánh Thần thấm nhập toàn thể con người ta, trở thành thầy nội tâm dạy ta biết cầu nguyện. Ngài là tác giả truyền thông kinh nguyện sống động của Hội Thánh. Có bao nhiêu người cầu nguyện thì có bấy nhiêu cách cầu nguyện, nhưng chỉ có một Thánh Thần, Đấng tác động trong mọi người và cùng với mọi người. Được thông hiệp nhờ Chúa Thánh Thần, khi người Kitô hữu cầu nguyện, họ cầu nguyện nhờ Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần (GLHTCG, số 2672)
     Con người với bản tính thấp hèn không thể tìm kiếm và khám phá Thiên Chúa trong tất cả sự tinh tuyền cao cả của Ngài được, nếu như họ không được Đấng mà họ tìm kiếm trợ giúp. Cũng giống như tất cả các ân ban của Thiên Chúa, việc cầu nguyện chỉ có thể đến từ sự rộng mở của tâm hồn người Kitô hữu với Thánh Thần là Đấng hiệp thông với Chúa Cha và nhờ Chúa Con. Khi cầu nguyện, người Kitô hữu sống tương quan giao ước với Thiên Chúa trong Đức Kitô. Kinh nguyện vừa là hoạt động của Thiên Chúa vừa của con người, phát xuất từ Chúa Thánh Thần và từ con người. Kinh nguyện hoàn toàn hướng về Chúa Cha, nhờ hiệp nhất với ý chí nhân trần của con Thiên Chúa làm người (GLHTCG, số 2564).
     Trong lời cầu nguyện, Thánh Thần là Đấng giải thoát và là sức mạnh, Thánh Thần giải thoát chúng ta khỏi những ràng buộc, ngăn cản hành trình của chúng ta theo Chúa Kitô. Những dây ràng buộc vô hình tuy nhỏ, nhưng rất nhiều và tinh vi. Chỉ có Thánh Thần ban cho chúng ta ơn can đảm nhổ tận gốc tất cả những ràng buộc. Chúa Thánh Thần còn là sức mạnh thần thiêng làm cho chúng ta không bao giờ mệt mỏi, mất sức trên đường hành trình. Có Thánh Thần, càng tiến sâu, chúng ta càng tiến bước và được tăng thêm sức.
     Trong lời cầu nguyện, Thánh Thần là Đấng soi sáng và khai mở. Có những lúc đường đi của chúng ta như mờ tối, chúng ta cần sự soi sáng của Thánh Thần, để đi cho đúng hướng, khỏi rơi vào những vực sâu, hoặc té ngã nặng nề khó chỗi dậy. Quan trọng hơn cả là sự soi sáng của Thánh Thần làm cho ta nhạy cảm với những giá trị thiêng liêng mà bình thường chúng ta nhận thấy xa vời không thực tế, không ăn nhập với đời sống của mình. Chúa Thánh Thần còn là ân sủng đi vào tâm hồn con người. Trước hết và trên hết, Chúa Thánh Thần biểu lộ chính Ngài giúp chúng ta trong sự yếu đuối của chúng ta. “Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta bằng những tiếng rên siết khôn tả” (Rm 8,26). Chúa Thánh Thần không chỉ làm cho chúng ta có thể cầu nguyện, mà còn hướng dẫn tâm trí chúng ta khi cầu nguyện. “Đấng thấu suất tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho các thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8,27). Cầu nguyện bằng sức mạnh Thánh Thần trở thành cách diễn tả trưởng thành hơn nữa của nhân loại mới, những người mà nhờ cách cầu nguyện này dự phần vào đời sống thần linh.
     Hơn nữa, lời cầu nguyện của người Kitô hữu không thể nào khác hơn lời cầu nguyện của tình con thảo. Đó là lý do tại sao cầu nguyện được Thánh Thần tác động, được thánh Phaolô giới thiệu như một tiếng kêu do cảm nghiệm Abba (Cha ơi) (Rm 8,15). Chính trong lời cầu nguyện này mà người Kitô hữu ý thức hơn về căn tính của mình, về tiếng gọi sống tràn đầy tình tương quan con thảo với Thiên Chúa Cha.
     Qua những gì đã được trình bày trên đây, ta có thể nhận thấy vai trò Chúa Thánh Thần trong đời sống người Kitô hữu như thế nào. Ngài thực sự là tâm điểm, là hơi thở của chính chúng ta. Do đó chúng ta không những phải “sùng kính” Chúa Thánh Thần, mà còn phải sống bằng Thần Khí và hít thở trong Ngài. Chúng ta cần phải tìm gặp lại một số giá trị của đời sống người Kitô hữu, là được sống và rao giảng Tin Mừng dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần.
     Như thế, chúng ta sẽ không bao giờ nhấn mạnh đủ về sự kiện ơn thánh hóa. Ơn này không là một cái gì đó trừu tượng, mà là chính sự sống của Thiên Chúa kết nối người Kitô hữu nhờ ơn huệ Thánh Thần. Trước mặt Ngài, tội lỗi xuất hiện với đầy đủ tính chất bi thảm của nó, như là xâm phạm đến sự nguyên tuyền “thiêng liêng” của con người.
     Thực vậy, ơn cứu độ không phải là hoa quả do sự chinh phục của con người, mà là một biến cố do tương quan với Thiên Chúa, được ghi vào kinh nghiệm làm con cái Thiên Chúa. Để cho Thần Khí dẫn dắt mình, có nghĩa là tiếp nhận ơn cứu chuộc như điều kiện, để sống đời sống của mình theo cùng đích và trong sự mỏng dòn, như chứng nhân của thụ tạo mới, được Thiên Chúa tạo thành trong thời đại của chúng ta. Theo đó, mỗi tín hữu được mời gọi sống yêu thương phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. Được mời gọi xây dựng những tương quan mới với chính anh em mình và với thực tại trọn vẹn, người Kitô hữu thực hiện căn tính của mình, được đánh giá như một con đường phấn khởi tiến đến tự do qua kinh nghiệm đích thực trong Thần Khí : đó là con đường tự giải thoát để yêu thương. Chúa Thánh Thần còn hướng dẫn người Kitô hữu biết sống trong cảnh huống của cuộc đời mà Thiên Chúa gửi đến cho họ. Chỉ có Ngài mới dạy chúng ta biết sống đúng vai trò của một người cha, một người mẹ, một người con … trong đời sống thường ngày của mình. Ngài là niềm hy vọng của thế giới, Ngài hướng dẫn vũ trụ và lịch sử. Ngài giống như dòng nước trong thiên nhiên mang lại sự sống và trù phú khắp nơi. “Sinh Khí của Ngài, Ngài gởi tới, là chúng được dựng nên, Ngài đổi mới mặt đất này”.
     Cuối cùng, Chúa Thánh Thần hằng không ngừng nâng đỡ đời sống của người Kitô hữu để họ được mãi kiên trì trong niềm hy vọng cánh chung. Giữa trăm chiều thử thách, Ngài vẫn luôn đứng bên cạnh như Ðấng An ủi hằng bảo vệ các kitô hữu ( Ga 16,8). Ngài nâng đỡ Hiền thê của Ðức Kitô trong khi chờ đợi ngày Chúa quang lâm, và mạnh mẽ phù trợ lời cầu của Giáo hội: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến!” (Kh 22, 17). Xác tín điều đó, chúng ta hãy chạy đến với Chúa Thánh Thần, hãy cầu xin Ngài trong mọi nơi mọi lúc, để Ngài thánh hoá và hướng dẫn chúng ta đến bến bờ vinh quang.


III. Chúa Thánh Thần theo cảm nhận của bản thân
     Một trong những viên ngọc quý – giữa kho tàng Lời Chúa mênh mông mà Chúa muốn trao tận tay, Chúa muốn trao tận tâm hồn mỗi người chúng ta, đó là: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5).
     Chúa Thánh Thần quả là món quà vô giá, tuyệt vời. Ngài sẽ hoá thành những khuôn mặt cực kỳ sống động và hấp dẫn.
1. Chúa Thánh Thần là con tim tình yêu của Chúa Cha
     Vì quá yêu chúng ta, Chúa Cha đã trao cho chúng ta trọn vẹn trái tim thổn thức yêu thương của Ngài. Từ muôn thuở, Ngài đã tuôn đổ vào lòng ta con tim tình yêu Thánh Thần để chúng ta mãi mãi bơi lội trong biển tình thương bao la của Ngài. Ta hít thở tình yêu của Ngài, lớn lên trong tình yêu của Ngài. Đi đâu, ở đâu, tôi cũng nằm gọn trong vòng tay âu yếm của Ngài như anh cả Giêsu trong trái tim nhân lành của Chúa Cha: “Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa”(Ga 17,26). Ta thấy đó, tình Chúa Cha yêu thương Đức Giêsu ở trong tâm chúng ta. Mà tình yêu thương này chính là Thánh Thần tình yêu của Chúa Cha yêu thương Đức Giêsu và mỗi người trong chúng ta. Còn gì hạnh phúc hơn?. Thánh Gioan đã xác tín rằng: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, đó là nhờ Thần Khí, Thần Khí Người đã ban cho chúng ta”( 1Ga 3,24). Chúng ta đều biết rằng nam nữ yêu nhau mong ước được ở bên nhau đã là khoái lắm rồi! Tình yêu giữa Chúa và ta sâu đậm hơn nhiều vì Chúa ở trong ta và ta ở trong Chúa. Nhờ đâu mà ta biết được ta kết hợp với Chúa đậm sâu như vậy? Đó chính là nhờ con tim tình yêu Thần Khí, con tim này như một chất keo siêu dính, kết hợp chúng ta nên một với Chúa. Quả vậy, Thánh Thần chính là con tim tình yêu của Chúa Cha.
2. Chúa Thánh Thần là sức mạnh thần kỳ
     Trong cuộc sống trần gian này, có biết bao điều làm cho tâm trí chúng ta chán nản, thân xác chúng ta mệt mỏi, rã rời khiến tâm hồn ta tràn đầy thất vọng, chỉ muốn buông xuôi tất cả. Trong vũng sâu u hoài đó, ta lấy đâu ra sức mạnh thần kỳ để vượt qua, để vươn lên? Khỏi cần tìm đâu xa, chúng ta chỉ cần trầm tư một chút, ngắm nhìn tâm hồn mình để khám phá ra sức mạnh tiềm tàng ẩn giấu trong đó. Ta sẽ nhận ra kho sức mạnh quyền năng vô tận có thể giúp ta hoá giải hoặc vượt qua những yếu đuối một các khá dễ dàng mà không cần phải chiến đấu vất vả khổ sở bằng ý chí của đầu óc con người. Chính thánh Phaolô đã chia sẻ cảm nghiệm về sức mạnh Thần Khí trong bản thân mình: “Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ”(2Tm 1,7).
Kết Luận
     Để kết thúc, xin được mượn lời của Công Đồng Vaticanô II, như một lời tuyên tín cho mỗi người chúng ta vào Chúa Thánh Thần: “Khi công trình Chúa Cha trao phó cho Chúa Con thực hiện trên trần gian đã hoàn tất (Ga 17, 4), Chúa Thánh Thần được sai đến trong ngày lễ Ngũ Tuần để thánh hóa Giáo hội mãi mãi, và như thế những ai tin sẽ được tới cùng Chúa Cha qua Chúa Kitô trong Giáo hội duy nhất (Ep 2, 18). Chính Ngài là Thánh Thần ban sự sống, là mạch nước vọt lên sự sống vĩnh cửu (Ga 4: 14; 7,38-39); nhờ Ngài, Chúa Cha hồi sinh những kẻ đã chết vì tội lỗi, đợi đến khi phục sinh thân xác hay chết của họ trong Chúa Kitô ( Rm 8, 10-11). Chúa Thánh Thần ngự trong Giáo hội và trong tâm hồn các tín hữu như ngự giữa đền thờ (1Cr 3, 16; 6, 19). Trong họ, Ngài cầu nguyện và chứng nhận họ là dưỡng tử ( Gl 4, 6; Rm 8, 15-16.26). Ngài thông đạt cho Giáo hội toàn thể chân lý toàn vẹn (Ga 16,13). Ngài thống nhất Giáo hội trong mối hiệp thông và trong công tác phục vụ. Ngài trang bị và dẫn dắt Giáo hội bằng những ân huệ phẩm trật và đoàn sủng khác nhau, trang điểm Giáo hội với những hoa quả của Ngài ( Ep 4, 11-12; 1Cr 12, 4; Gl 5, 22). Nhờ sức mạnh Phúc âm, Ngài làm cho tươi trẻ, không ngừng canh tân và đưa dẫn Giáo hội đến chỗ kết hợp hoàn toàn với Phu Quân mình. Thực vậy, Chúa Thánh Thần và Hiền thê nói cùng Chúa Giêsu rằng: ‘Xin hãy đến’ ( Kh 22, 17). Như vậy, Giáo hội phổ quát xuất hiện như ‘một dân tộc được đoàn hợp do mối hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh thần’ ” (Lumen Gentium, số 4).
     Cuối cùng, Chúa Thánh Thần hằng không ngừng nâng đỡ đời sống của người Kitô hữu để họ được mãi kiên trì trong niềm hy vọng cánh chung. Giữa trăm chiều thử thách, Ngài vẫn luôn đứng bên cạnh như Ðấng An ủi hằng bảo vệ các kitô hữu ( Ga 16,8 ). Ngài nâng đỡ Hiền thê của Ðức Kitô trong khi chờ đợi ngày Chúa quang lâm, và mạnh mẽ phù trợ lời cầu của Giáo hội: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến!” (Kh 22, 17). Xác tín điều đó, chúng ta hãy chạy đến với Chúa Thánh Thần, hãy cầu xin Ngài trong mọi nơi mọi lúc, để Ngài thánh hoá và hướng dẫn chúng ta đến bến bờ vinh quang.

                                                            Linh mục Giuse Phan Cảnh
                                           ĐCV Thánh Phaolo Lê Bảo Tịnh Thanh Hóa