Hai cuộc gặp gỡ trong Tin Mừng Gioan

06/04/2026
112


HAI CUỘC GẶP GỠ TRONG TIN MỪNG GIOAN

Trong cuộc sống đời thường, ai trong chúng ta cũng cần có sự gặp gỡ để trò chuyện và tương giao với nhau. Có những cuộc gặp gỡ mang lại cho chúng ta rất nhiều niềm vui, nhưng cũng có những cuộc gặp gỡ làm cho chúng ta chán nản, thất vọng và thậm chí nhấn chìm cả cuộc đời chúng ta nữa. Vậy đâu là cuộc gặp gỡ mang lại cho chúng ta sức sống mãnh liệt, niềm tin yêu vô biên, lòng phó thác vô bờ, để ta vượt lên trên mọi thử thách và cả cái chết? Chúng ta sẽ tìm được câu trả lời trong Tin Mừng của Thánh Gioan qua hai cuộc gặp gỡ: Con Thiên Chúa gặp gỡ con người và Đấng Phục Sinh gặp gỡ Maria Mác-đa-la cùng các môn đệ.

1.   Cuộc gặp gỡ thứ nhất: Con Thiên Chúa gặp gỡ con người ( Ga 1,1-18 ).

 Nội dung cuộc gặp gỡ.

Thánh Gioan không trực tiếp mở đầu Tin Mừng bằng trình thuật về thời thơ ấu của Chúa Giêsu, nhưng Gioan trình bày Đức Giêsu là “Logos” = “ Ngôi Lời”.  Ngôi Lời hiện hữu từ đời đời, ngoài thời gian và trước cả công trình sáng tạo: “ Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời”. Từ đời đời Ngôi Lời hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Ngôi Lời được giới thiệu như là Đấng trung gian trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa: Chính nhờ Người mà muôn vật được tạo thành và hiện hữu ( Ga 1,3 ). Ngôi Lời được đồng hoá với sự sống và sự sống chính là ánh sáng. Nhờ ánh sáng mặc khải của Ngôi Lời này con người nhận ra Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng ban sự sống.

Sự xuất hiện của Gioan Tẩy Giả ở ( Ga 1,6-8) mà Gioan đưa vào nhằm mục đích trình bày sự khác biệt giữa hai nhân vật: Đức Giêsu là Ngôi Lời, hiện hữu trước tạo thành, Người luôn hướng về Thiên Chúa; còn Gioan Tẩy Giả chỉ là chứng nhân. Ông không phải là ánh sáng nhưng là chứng nhân của ánh sáng. Gioan chỉ là người dọn đường, là người dẫn chương trình trên sân khấu mà thôi. Khi nhân vật chính xuất hiện thì người dẫn chương trình phải nhường chỗ cho nhân vật chính đó. Tiếp theo, tác giả giới thiệu Ngôi Lời là ánh sáng thật. Ánh sáng đã đến thế gian nhưng thế gian đã từ chối. Trái với những người từ chối thì tất cả những ai đón nhận ánh sáng đó, nghĩa là tất cả những ai tin vào Đức Giêsu Kitô, tiếp nhận mặc khải của Ngài, gắn bó với Ngài, thì đều được trở nên con Thiên Chúa. Ngôi Lời đã làm người. Ngôi Lời vĩnh cửu, hiện hữu từ muôn đời, ngoài thời gian. Nay đi vào thời gian, đi vào lịch sử nhân loại. Chính sự kiện này mà thời của lề luật đã qua và bây giờ là thời của ân sủng. Sự sung mãn mà con người nhận được không phải là từ lề luật nữa mà là từ ân sủng của Đức Giêsu Kitô ( Ga 1,16-18 ).

Mục đích của cuộc gặp gỡ.

Qua cuộc gặp gỡ này, Thánh Gioan muốn nhấn mạnh đến điểm quan trọng là: Ngôi Lời đã trở nên “Người thật” chứ không phải chỉ là dưới hình bóng người như Ảo Thân Thuyết chủ trương. Họ cho rằng Chúa Giêsu chỉ là một ảo ảnh mà thôi. Một lần nữa Gioan nhấn  mạnh rằng Ngôi Lời là một con người với tất cả hệ luỵ của kiếp người dương thế, từ khi sinh ra cho đến khi từ giã cõi đời ( ngoại trừ tội lỗi ). Hay nói như Công Đồng Vatiacanô II trong hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng: “ Con Thiên Chúa khi nhập thể, một cách nào đó đã kết hợp với tất cả mọi người. Người đã làm việc với bàn tay con người, đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu mến với trái tim con người”( Gs, số 22 ).

Gioan khẳng định sự nhập thể của Ngôi Lời qua hình ảnh “ cắm lều” giữa nhân loại. Điều này gợi lại hình ảnh “Lều” trong Sa mạc; Lều mà trong đó có Hòm Bia Giao Ước là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữ dân Người trong cuộc Xuất hành ( Xh 25,8 ). Chính Thiên Chúa đồng hành với dân: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên Chúa của họ” ( Kh 21,3 ). Nhưng giờ đây, Ngài không hiện diện trong hòm bia bằng gỗ do con người làm nên nữa, mà Ngài hiện diện trong chính thân xác của Đức Giêsu Kitô. Từ đây “ Logos” = “ Ngôi Lời” đã trở nên một con người lịch sử mang tên Giêsu. Chính Đức Giêsu sẽ mặc khải từng bước một, Ngài sẽ giải thích, Ngài sẽ kể lại cho chúng ta về mầu nhiệm được giữ kín từ đời đời.

Ý nghĩa của cuộc gặp gỡ.

Thánh Iréne đã từng nói: “ Con Thiên Chúa làm người để con người được làm con Thiên Chúa”. Quả thật, biến cố Con Thiên Chúa gặp gỡ con người có một ý nghĩa hết sức lớn lao. Chính vì Con Thiên Chúa đến với con người và làm người ở giữa chúng ta, nên mắt chúng ta mới trông thấy được, tay chúng ta mới chạm đến được, đó là điều làm Thánh Gioan ngây ngất vì sung sướng: “Điều vốn có ngay từ khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là lời sự sống. Quả vậy, sự sống đã xuất hiện, chúng tôi đã nhìn thấy và làm chứng” ( 1Ga, 1,2 ). Tình yêu của Thiên Chúa đã cúi xuống với nhân loại để cho nhân loại gặp gỡ được tình yêu Thiên Chúa. Ngôi Lời nhập thể đến ở với chúng ta, trở nên giống chúng ta để cứu độ chúng ta: “ vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế” ( Kinh tin kính ).

Qua cuộc gặp gỡ giữa Con Thiên Chúa và con người. Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa đã mặc khải cho chúng ta một cách đầy đủ và chính xác nhất về Thiên Chúa, như Thánh Gioan đã quả quyết:  “ Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ, nhưng Con Một là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1,18 ). Đức Giêsu đã tỏ cho loài người biết Thiên Chúa là ai? Thiên Chúa không phải là một vị thần thống trị và bòn rút con người, lại càng không phải là một nguyên nhân đệ nhất xa xôi, cách biệt. Nhưng Thiên Chúa là một Đấng có bản vị, một Đấng mà bản chất là yêu thương, hằng lo lắng chăm sóc tới con người như một người cha, một người mẹ tốt lành.

Chính cuộc gặp gỡ giữa Con Thiên Chúa và con người cho ta thấy Thiên Chúa đích thân đi tìm con người. Ngài đến nói với con người về chính mình và chỉ cho họ con đường đến với Ngài. Kể từ giây phút này, sự tìm kiếm Thiên Chúa của chúng ta không còn mò mẫm trong tối tăm nữa, nhưng là một lời đáp trả bằng đức tin đối với Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải mình ra. Và khi lấy đức tin đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, Đấng đang tìm kiếm mình, con người được cứu độ: “ Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” ( Ga 1,12 ).

2.    Cuộc gặp gỡ thứ hai: Đấng Phục Sinh gặp gỡ Maria Mac-đa-la và các môn đệ ( Ga 20, 1-29 )

Nội dung cuộc gặp gỡ

2.1. Đấng Phục Sinh gặp gỡ Maria Mac-đa-la ( Ga 20, 1-18 )

Maria Mac-đa-la được Gioan giới thiệu như một người luôn đi tìm kiếm Chúa. Trước hết, bà ra mộ từ rất sớm, lúc mà trời còn đang tối. Bà đi sớm như vậy là để mong được thấy xác Đức Giêsu lần cuối cùng. Sau khi phát hiện tảng đá lăn ra khỏi mộ, bà không vào trong, nhưng chạy về báo cho Phêrô và người môn đệ Chúa yêu: “ người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ và tôi chẳng biết họ để Người ở đâu” ( Ga 20,2 ). Sau khi kể chuyện, hai môn đệ ra mộ Chúa, tác giả cho chúng ta gặp một Maria Mac-đa-la đang khóc bên bên mộ Chúa và bà tiếp tục tìm kiếm thân xác của Đức Giêsu trong mộ. Khi nói chuyện với hai Thiên thần, Maria Mac-đa-la vẫn tiếp tục tìm và bà đã không nhận ra Đức Giêsu khi Ngài hỏi: “ sao bà khóc, bà tìm ai?”. Maria Mac-đa-la vẫn cứ tưởng đó là người làm vườn. Bà không nhận ra Chúa, vì Chúa Giêsu không hoàn toàn giống như trước đây nữa. Nhưng khi Đức Giêsu gọi chính tên bà, Maria Mac-đa-la đã nhận ra Người. Bà đã vui mừng khi gặp được Đấng Phục Sinh và đã đáp lại bằng tiếng kêu từ chính lòng mình: “ Lạy Thầy”. Chúa Giêsu đã nói với bà: “ thôi đừng giữ Thầy lại” ( Ga 20,17 ) và Maria Mac-đa-la đã đi báo cho các môn đệ: “ tôi đã thấy Chúa”.

2.2. Đấng Phục Sinh gặp gỡ các môn đệ ( Ga 20, 19-29 )

  Thời điểm Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra với các môn đệ, cũng chính là thời điểm Ngài hiện ra với Maria Mac-đa-la, nhưng vào buổi chiều: “ vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần” (Ga 20, 19a). Nơi các môn đệ ở thì tác giả không nói các minh nhiên. Tác giả chỉ giới thiệu nơi ở và thái độ của các môn đệ trong cảnh: “các cửa đều đóng kín, vì sợ người Do thái”( Ga 20,19b ). Chính trong cảnh này mà Đức Giêsu Phục Sinh đã đến và mang bình an cho các môn đệ: “ bình anh cho anh em”. Nói xong, Người cho các môn đệ xem tay và cạnh xườn Người. Và các môn đệ đã vui mừng vì được thấy Chúa. Sau đó, Chúa Giêsu Phục Sinh trao cho các môn đệ một sứ vụ, sứ vụ mà Ngài đã nhận được từ nơi Chúa Cha: “ như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em, anh em hãy nhận lấy Thánh Thần, anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ”.

Tôma không có mặt ở đó, lúc mà Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ. Vì thế, ông đã không tin. Tôma đòi thấy tận mắt Chúa với những vết thương. Hơn thế nữa, ông còn đòi “ xỏ ngón tay vào lỗ đinh” và “đặt bàn tay vào cạnh xườn Chúa” ( Ga 20, 25b ). Nhưng với lần hiện ra thứ hai của Đức Giêsu Phục Sinh thì Tôma đã tin nhận: “ Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con”.

Mục đích, ý nghĩa của cuộc gặp gỡ giữa Đấng Phục Sinh và Maria Mac-đa-la 

Maria Mac-đa-la là người đã chứng kiến những biến cố xảy ra với Đức Giêsu, khi mà các môn đệ đã bỏ trốn hết, dù họ đã đi theo Đức Giêsu từ khi được Người kêu gọi. Bà tượng trưng cho sự trung thành của con người, cương quyết dù bất lực, dọc theo hành trình của Đức Giêsu. Sự trung thành này đã đưa bà trở lại ngôi mộ và bà đã được gặp Chúa Phục Sinh. Chính điều này đã làm cho Maria Mac-đa-la trở thành người đầu tiên sống Tin Mừng Phục Sinh và trở thành trung gian giữa Đức Giêsu và các môn đệ Của Người.

Cuộc gặp gỡ giữa Đấng Phục Sinh và Maria Mac-đa-la nhằm diễn tả một thực tại về Đức Giêsu hằng sống. Ngài hiện diện không hoàn toàn giống như trước đây nữa, mà thân xác ngài đã được biến đổi thành thân xác vinh hiển, thần thiêng. Người ta không thể tiếp xúc với Đức Giêsu Phục Sinh cách thể lý như khi Người đang còn sống ở trần gian. Đó là lý do tại sao Maria Mac-đa-la đã gặp Chúa Phục Sinh nhưng bà không nhận ra. Chỉ khi Chúa gọi đúng tên bà, Maria mới nhận ra Người ( c.10 ), cũng giống như hai môn đệ trên đường Emmau nhận ra Chúa Phục Sinh khi Người bẻ bánh ( Lc 24,30-31 ). Maria Mac-đa-la đã vui mừng khi gặp được Đấng Phục Sinh. Chính lúc này, Chúa làm cho lời hứa của Ngài trong diễn từ ly biệt trở thành hiện thực: “ anh em cũng vậy, bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em không ai lấy mất được” ( Ga 16,22 ).

Câu nói của Chúa Giêsu với Maria Mac-đa-la: “ thôi đừng giữ thầy lại” ( c.17a ) cho thấy, kể từ khi sống lại, thân xác của Đức Giêsu cũng như sự hiện diện của Ngài không hoàn toàn giống như trước. Hay nói một cách khác, người ta không thể nhận thấy Đức Giêsu Phục Sinh bằng con mắt xác thịt, nhưng phải bằng con mắt đức tin.

Qua cuộc gặp gỡ này, Maria được giới thiệu như mẫu gương của người tín hữu biết lắng nghe tiếng gọi của chủ chăn, Đấng gọi tên từng con một, Đấng mời gọi họ trở nên chứng nhân của niềm tin Phục Sinh. Maria Mac-đa-la đã thực hiện lệnh truyền đó khi báo cho các môn đệ: “ tôi đã thấy Chúa” ( c.18 ) và lời loan báo này trở thành một chứng từ hiện tại về Đức Giêsu hằng sống. Nhờ cái chất và sự Phục Sinh của Đức Giêsu mà các môn đệ trở thành anh em của Chúa, trở nên con Thiên Chúa, như điều Ngài đã nói khi gặp Maria Mac-đa-la: “ Cha của Thầy cũng là Cha của anh em”. Đức Giêsu là người đầu tiên sống lại từ cõi chết, lên trời ngự bên hữu Chúa Cha, sẽ cho anh em của Ngài cũng sống lại và lên trời với Ngài. Ngài sẽ thực hiện lời Ngài đã tiên báo: “ lòng anh em đứng sao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy, trong nhà Cha Thầy có rất nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đưa anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó, và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi” ( Ga 14,1-4 ).

Mục đích, ý nghĩa của cuộc gặp gỡ giữa Đấng Phục Sinh và các môn đệ

Lời đầu tiên trong cuộc gặp gỡ giữa Đấng Phục Sinh và các môn đệ là lời chào bình an. Đây không phải là một lời chào xã giao, nhưng là một sự bình an đích thực, là hoa trái của ơn cứu độ  “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy”. Như vậy, Đấng vừa vượt qua cái chết đã đến để xua tan sự sợ hãi, lo lắng của các môn đệ và ban cho các ông sự bình an trọn vẹn. Sự kiện Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra với các môn đệ trong ngôi nhà đóng kín cửa cho ta thấy thân xác của Ngài không còn bị chi phối bởi quy luật vật lý nữa. Đặc biệt, khi mô tả việc Đức Giêsu Phục Sinh cho các môn đệ xem những dấu vết nơi chân tay và cạnh sườn Người, Gioan muốn nói cho chúng ta một thực tại quan trọng. Mặc dù thân xác Đức Giêsu không còn trong mồ, mặc dù thân xác Ngài đã được biến đổi không còn giống như trước nữa, nhưng đó không phải là một  “bóng ma”, mà là chính Đức Giêsu, Đấng đang hiện diện giữa họ, Thầy của họ, Đấng đã biết họ, đã yêu họ, đã chịu đóng đinh, chịu chết, mai táng trong mồ và nay đã sống lại. Những dấu chỉ đó cho ta thấy chiến thắng chung cuộc của Đức Giêsu: chiến thắng đau khổ, sự dữ và sự chết. Giờ đây, nhờ sự hiện diện của Đấng Phục Sinh, mà sự sợ hãi của các môn đệ đã tan biến đi, nhường chỗ cho niềm vui, niềm vui mà Đức Giêsu đã hứa: “ nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui…và niềm vui của anh em sẽ không ai lấy mất được” ( Ga 16,20 - 22 ).

Sự kiện Đức Giêsu hiện đến, thổi hơi trên các môn đệ và bảo: “ anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” ( c.22 ) có một ý nghĩa quan trọng. Nếu như khi tạo dựng nên con người, Thiên Chúa đã  “thổi sinh khí” vào để con người có sự sống, thì giờ đây Đức Giêsu Phục Sinh  “thổi” quyền năng của Thánh Thần trên các môn đệ, để làm một cuộc tân sáng tạo là tái sinh con người trong thần khí và chia sẻ sự sống của Ngài cho các môn đệ. Qua sự kiện này, Thánh Gioan cho chúng ta thấy được sự liên tục không gián đoạn giữa thời của Đấng Messia và thời của Thần khí. Nhờ Thần Khí mà các tông đồ được Đức Giêsu Phục Sinh chuyển giao cho “ quyền tha tội” hay “cầm giữ”. Chính nhờ Thánh Thần hướng dẫn và nâng đỡ, họ sẽ hiểu về những lời mặc khải của Đức Giêsu và trở thành những chứng nhân thực thụ của Tin Mừng Phục Sinh.

Khi Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra với các môn đệ thì không có Tôma ở đó với các ông. Sự vắng mặt của Tôma đã khiến Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra lần nữa. Qua lần hiện ra với Tôma, Gioan muốn hướng chúng ta đến niềm tin chắc chắn vào Đức Giêsu Phục Sinh và niềm tin Phục Sinh không hệ tại ở việc người ta thấy Đấng Phục Sinh nhưng là nhờ vào chứng từ của chứng nhân. Cũng giống như Tôma, từ chỗ không chấp nhận lời chứng của các tông đồ, đòi phải thấy tận mắt, đòi phải kiểm nghiệm bằng giác quan, đến chỗ đầu hàng vô điều kiện, thậm chí không dám làm cái điều mà mình đã đòi hỏi trước. Từ chỗ không tin vào sự Phục Sinh của Thầy mình, đến chỗ tuyên xưng Thầy mình là “ Chúa và là Thiên Chúa”.

3.     Mối liên hệ giữa hai cuộc gặp gỡ

Trong Tin Mừng Gioan, Maria Mac-đa-la là người đầu tiên nhìn thấy Đức Giêsu Phục Sinh. Bà không nhận ra Ngài bằng thị giác nhưng chỉ nhận ra lúc Ngài gọi tên bà. Đức Giêsu Phục Sinh nói với bà rằng “ Cha của Thầy cũng là Cha của các con” và gọi các môn đệ là “anh em” mình. Như vậy, với Maria Mac-đa-la, Đức Giêsu Phục Sinh đã làm trọn vẹn lời hứa trong phần lời tựa của Thánh Gioan: “ tất cả những ai đón nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa”( Ga 1,12 ). Kết quả là Maria Mac-đa-la ra đi và loan báo rằng: “ tôi đã nhìn thấy Chúa” ( Ga 20,18 ). Nếu như trong phần lời tựa ( Ga 1,6-8 ): Gioan là người tin đầu tiên, ông đến để làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin, thì Maria Mac-đa-la cũng là người đầu tiên loan truyền Chúa Phục Sinh ( Ga 20,18 ).

Tin Mừng của Gioan nói đến sự nghi ngờ khi Đức Giêsu hiện ra sau Phục Sinh với những người theo Ngài. Thánh Gioan biên tập mối nghi ngờ này lại trong một cá nhân (Ga 20,24-29 ). Điều này cho ta thấy một sự mâu thuẫn: lời tuyên xưng đức tin long trọng nhất trong Tin Mừng lại xuất phát từ môi miệng của một “ Tôma nghi ngờ”: “ Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi ”. Ở đây chúng ta nhớ lại phần lời tựa với sự khẳng định của Gioan: “Ngôi Lời là Thiên Chúa” ( Ga 1,1 ). Nếu như trong phần lời tựa ( Ga 1,10-11 ): Ngôi Lời đã đến thế gian nhưng thế gian không nhận biết Người, thì qua lần hiện ra của Đức Giêsu Phục Sinh với các môn đệ, đặc biệt là Tôma đã tuyên xưng Đức Giêsu chịu đóng đinh và được tôn vinh là “ Chúa và là Thiên Chúa”. Giờ đây con người đã nhận biết được điều đó.

 Qua những cuộc gặp gỡ mà Tin Mừng Gioan giới thiệu: Con Thiên Chúa gặp gỡ con người ( Ga 1,1-18 ); Đấng Phục Sinh gặp gỡ Maria Mac-đa-la và các môn đệ cho chúng ta thấy: Thiên Chúa luôn đi bước trước để tìm kiếm con người, cho dù con người có chối bỏ Ngài vẫn một mực yêu thương. Ngài đã bước xuống tận cùng của kiếp người, đã làm người, đã đi vào lịch sử của nhân loại để chia sẻ mọi lo âu khắc khoải của con người và chỉ cho con người con đường về trời. Ngài đã chịu chết, đã sống lại và nay Người hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta. Chính qua những cuộc gặp gỡ này mà đức tin của chúng ta được củng cố, niềm hy vọng sống lại của chúng ta được bảo đảm.

 

                                                            Linh mục Giuse Phan Cảnh

                                 Đại Chủng Viện Thánh Phaolo Lê Bảo Tịnh Thanh Hóa