
WHĐ (22/4/2026) - Bài viết này được trích từ cuốn sách "Alight With Hidden Glory: The 2026 Papal Retreat" (Bloomsbury, 2026). Cuốn sách gồm những bài suy niệm do Đức Giám mục Erik Varden thuyết giảng cho Đức Giáo hoàng Leo XIV và Giáo triều Roma vào tĩnh tâm mùa Chay năm 2026.
Sơ Mary Ward, nhà giáo dục Kitô giáo vĩ đại của thế kỷ 17, thường nói với các chị em cùng dòng: "Hãy cố gắng hết sức và Thiên Chúa sẽ trợ giúp". Ý niệm Thiên Chúa có thể và sẽ giúp chúng ta trong những hoàn cảnh khó khăn là một chân lý nền tảng của đức tin Kinh thánh. Điều này giúp phân biệt Thiên Chúa của Apraham, Issac và Giacop, một Thiên Chúa đã trở nên xác phàm đầy lòng trắc ẩn nơi Chúa Giêsu Kitô, với khái niệm Unmoved Move (Đấng chuyển động nhưng không bị chuyển động) của triết học. Sự trợ giúp của Thiên Chúa thể hiện lòng thương xót của Người. Phẩm tính này lần đầu tiên được ông Lót gọi, khi ông được giúp thoát khỏi sự hủy diệt của thành Sôđôm, ngay cả khi ông không sẵn lòng làm hết sức. Ông đã phớt lờ lời chỉ dẫn của các thiên thần là phải trốn lên núi, thay vào đó lại chọn định cư tại một "thành nhỏ" ở vùng đồng bằng để sống những ngày còn lại của cuộc đời trong sự tầm thường mờ nhạt.
Tìm kiếm sự cân bằng hợp lý giữa nỗ lực cá nhân và sự phó thác đầy tin tưởng vào sự trợ giúp của Thiên Chúa là một thách đố không ngừng. Thách đố này là chủ đề của bài giảng đầu tiên của Thánh Bernard về Thánh vịnh 90, liên quan đến câu mở đầu của Thánh vịnh: "Chúa là nơi chúng con trú ẩn".
Theo Thánh Bernard, sự trợ giúp của Thiên Chúa được gọi là môi trường sống, bởi vì nó tạo thành một thực tại nâng đỡ, trong đó chúng ta có thể sống, di chuyển và hiện hữu. Sự trợ giúp của Thiên Chúa không phải là điều nhất thời; nó không phải là một dịch vụ cứu hộ khẩn cấp mà thỉnh thoảng chúng ta mới gọi, khi nhà bị cháy hoặc ai đó bị tai nạn xe. Sự trợ giúp của Chúa là một thuộc tính trong chính bản thể của Người, giúp duy trì sự tồn tại của chúng ta. Khi Chúa Kitô nói: "Không có Thầy, anh em không làm gì được", thì điều đó hoàn toàn đúng theo nghĩa đen. Việc chúng ta đang hiện hữu là bằng chứng xác thực rằng Chúa đang trợ giúp. Câu hỏi đặt ra là tôi có ở lại trong sự trợ giúp ấy như ở trong nhà của Cha tôi không, hay tôi lại khao khát một "miền đất xa xôi" nào đó, nơi tôi tưởng tượng mình có thể sống bằng sức riêng? Nếu tôi làm vậy, đó là một giấc mơ không tưởng. Thánh Bernard nhấn mạnh rằng, nơi mà tôi tưởng là tự lập, không bị quấy rầy, nhưng thực chất lại là một "vùng đất của sự khác biệt" nơi tôi tự cắt đứt mối liên hệ với cội nguồn căn tính của chính mình.
Thánh Bernard nói cách tốt nhất để hiểu ý nghĩa của việc ở lại trong sự trợ giúp của Thiên Chúa là nhìn vào ba kiểu người đứng ngoài sự trợ giúp đó. Thánh nhân mô tả họ dựa trên đức cậy. Ba nhóm đó lần lượt là: những người không có hy vọng, những người tuyệt vọng, và những người hy vọng một cách hão huyền.
Những người không có hy vọng là những người tự cho rằng mình không cần sự trợ giúp của Chúa, vì cảm thấy có thể tự mình làm được tất cả. Những người như vậy có thể thấy cả trong Giáo hội. Một người siêng năng cầu nguyện, ăn chay hoặc làm việc bác ái có thể bắt đầu nghĩ rằng mình giàu công đức; rồi dần buông lỏng lòng kính sợ Chúa. Nghĩ rằng mình có thể tự xoay sở, người này rơi vào một “sự an tâm tai hại" thể hiện trong sự hời hợt và kiêu ngạo ngày càng tăng; trở thành độc đoán, bắt nạt, nói xấu người khác, sau cùng trở thành một phản chứng cho chính bậc sống mà người này tưởng rằng đang thể hiện một cách hoàn hảo.
Những người có khuynh hướng tuyệt vọng thuộc về một nhóm thứ hai: những người xa lạ với sự trợ giúp của Thiên Chúa. Họ bị ám ảnh bởi yếu đuối của chính mình đến nỗi thiếu năng lượng và không muốn tìm đến sự trợ giúp mạnh mẽ của Thiên Chúa, thay vào đó tìm thấy sự thỏa mãn lệch lạc trong những đau khổ của mình, điều mà họ không ngừng kể lể với bất kỳ ai buộc phải nghe. Ngay cả sự thiếu thốn cũng có thể trở thành một thứ bê vàng mà việc sùng bái nó khiến con người rơi vào tình trạng mê muội trong việc tự soi xét bản thân.
Loại thứ ba, những người hy vọng một cách hão huyền, coi lòng thương xót của Thiên Chúa là điều hiển nhiên, vì vậy họ thấy không cần phải bận tâm đến việc sửa đổi lỗi lầm. Thánh Bernard lưu ý, niềm hy vọng của những người như vậy thiếu lòng bác ái, và chỉ phát sinh từ một cảm thức đòi hỏi quyền lợi.
Nếu chúng ta muốn học biết thế nào là sống trong sự nâng đỡ của Thiên Chúa, thì chúng ta cần có lòng khiêm nhường đón nhận ân sủng, lòng can đảm và ý thức về chính những thiếu thốn của mình. Thường thì chính qua những lần vấp ngã mà ta học được cách để được nâng đỡ. Người công chính cũng như kẻ bất chính đều có thể ngã, nhưng có sự khác biệt. Những ai sống trong sự trợ giúp của Thiên Chúa nhận ra rằng họ có thể ngã nhưng không bị nghiền nát bởi chính sự yếu đuối đó. Thiên Chúa “đưa tay nâng đỡ” họ. Vì những người công chính, sống bằng đức tin vào sự trợ giúp của Thiên Chúa, có thể đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Còn những ai coi nhẹ sự trợ giúp của Thiên Chúa, dù vì kiêu ngạo hay vì nhút nhát yếu hèn, thì lại có khuynh hướng nằm lì sau khi bị quật ngã, thậm chí không bận tâm đến việc cố gắng đứng dậy.
Những gì Thánh Bernard nói thật có lý. Nhưng còn trường hợp người kính sợ Chúa vấp ngã và dường như bị bỏ rơi, kêu thấu tới trời nhưng không được đáp lời, chỉ nghe thấy tiếng vọng cô quạnh của chính mình thì sao?
Hình mẫu Kinh thánh cho hoàn cảnh như thế chính là Gióp, người được Đức Giáo hoàng Grêgôriô Cả diễn giải một cách xuất sắc trong tác phẩm được các đan sĩ Xitô đầu tiên đặc biệt trân quý. Tác phẩm Moralia in Hiob của Đức Giáo Hoàng đã được sao chép trong thư viện của tu viện Cîteaux vào năm 1111, cũng là năm Robert qua đời. Tuy nhiên, để đặt những suy tư của Thánh Bernard về sự trợ giúp của Thiên Chúa vào một viễn cảnh rõ hơn, tôi muốn dựa vào một nhà diễn giải đương thời, người mang lại một ánh sáng bất ngờ nhưng hữu ích cho chủ đề này.
Nhà thần học Tin Lành người Pháp Marion Muller-Colard mở đầu bài luận về Gióp với tựa đề L'Autre Dieu (Vị Thiên Chúa Khác), bằng cách kể lại một cuộc viếng thăm mục vụ. Đó là năm 2001. Khi ấy bà 23 tuổi, đã hoàn thành các khóa học bắt buộc, đã nghiên cứu tiếng Hy Lạp và Do Thái. Bà được cử đi thực tập bằng việc đến thăm một phụ nữ lớn tuổi phải ngồi xe lăn. Khi hỏi một số người dân địa phương đường đến ngôi nhà đó, họ chỉ cho bà với cái nhìn ái ngại. Sau khi bấm chuông cửa, nữ thần học gia nhận ra "Bà ta ghét tôi ngay từ cái nhìn đầu tiên".
Thiếu nữ nhận ra mọi thứ mình có - tuổi trẻ, sự duyên, sự nhanh nhẹn hoạt bát - dường như là một sự sỉ nhục đối với người phụ nữ đau yếu, phải ngồi xe lăn. Khi bước vào và ngồi xuống, chủ nhà đã làm cho nữ thần học gia dường như bị tê liệt khi kể lể nỗi cay đắng, chỉ vào những đồ vật cũ kỹ xung quanh và nhắc lại những oán trách.
Bên ngoài là mùa xuân. Vị khách biết rằng mình sẽ sớm được trở lại với thế giới ấy, trong khi bà này vẫn bị giam cầm trong thế giới mùa đông của bà, phó mặc cho "một chuỗi hỗn loạn của những giờ phút trống rỗng, của những ngày và những tuần lễ không còn chút thiết tha nào với cuộc sống".
Khung cảnh này khá quen thuộc. Chúng ta nhận ra điều đó. Tuy nhiên, điều làm cho câu chuyện trở nên khác biệt là sự nhạy bén của Marion Muller-Colard trước một sự thay đổi tông giọng tinh tế khi người đối diện, sau khi đã mở lời, tiếp tục lời độc thoại của mình. Tại một thời điểm, hàng loạt những lời than phiền nhường chỗ cho một cái gì đó sâu xa hơn. Muller-Colard gọi nó là Lời Than Thở, và viết hoa cụm từ này như thể đó là một chủ thể độc lập, có vị thế riêng.
Thần học gia nói: "Lời Than Thở từ từ dâng lên thành cao trào. Nó tuôn ra như một tiếng rên rỉ từ tận cùng của thời đại. Tôi không nhớ những lời đó. Lời Than Thở không bận tâm đến lời lẽ, không cần chúng. Ngôn từ chỉ là một cái cớ. Lời Than Thở cũng chẳng nhắm vào một đối tượng cụ thể nào. Nó đơn thuần là Lời Than Thở, thuần khiết và đơn giản, và tôi nhận ra nó”. Một lúc sau, dòng tuôn trào ấy dừng lại. Người phụ nữ lớn tuổi bất ngờ im lặng, nhìn chăm chú vào vị khách. Cả hai người ngồi đó, đối diện nhau, giống như hai võ sĩ trên võ đài.
Lời Than Thở ấy thực chất là một hình thức tấn công phủ đầu nhằm vào những lời sáo rỗng mà bà cụ có thể đoán là nữ thần học gia sẽ nói. Thách đố rất rõ ràng: "Đáp lại xem nào!" Muller-Colard ý thức mình đang bị dồn vào thế bí, biết giờ đến lượt mình phải bước tới. Một câu trả lời là cần thiết. Nhưng phải nói như thế nào? Nắm chặt quyển Kinh thánh nhỏ trong túi Muller-Colard biết nếu nói những lời đạo đức hay không nói gì thì Lời Than Thở cũng sẽ đáp trả mạnh mẽ. Từ lâu Than Thở đã cư ngụ và ghì chặt bà này, khó chữa lành. Nhưng Muller-Colard nhận ra mình đã nghe Lời Than Thở này rồi. Điều này giúp nhà thần học can đảm mở đoạn Kinh thánh ra đọc
Ý thức này mang lại cho Muller-Colard sự táo bạo để mở Kinh thánh và đọc:
Phải chi ngày tôi chào đời đừng xuất hiện, cũng như đêm đã báo: “Đứa con trong bụng mẹ là một nam nhi!” Phải chi ngày ấy là đêm tối, phải chi từ nơi cao thẳm Thiên Chúa đừng để ý tới ngày ấy làm gì. Phải chi trên ngày ấy ánh sáng đừng chiếu rọi. .. Phải chi tinh tú ban mai thành tăm tối mịt mờ, và ban mai uổng công chờ ánh sáng, không hề thấy bình minh xuất hiện. Vì đêm ấy đã không đóng kín lòng dạ cưu mang tôi, khiến mắt tôi khỏi nhìn thấy đau khổ.
Sự im lặng ngỡ ngàng theo sau, nhưng là một kiểu im lặng rất khác, không giống như trước, không còn thù địch nữa mà cởi mở, ngạc nhiên.
Muller-Colard nhận xét một cách thản nhiên: "Ngày hôm đó, không phải tôi là người đến thăm bà ấy, nhưng là anh tôi, ông Gióp. Và chính nhờ ông mà tuần tiếp theo bà ấy đã mở cửa bằng một nụ cười, một nụ cười mà chính bà cũng ngạc nhiên khi tìm thấy trong kho lưu trữ ký ức của mình".
Câu chuyện này cho chúng ta thấy sự bất lực không thể chấp nhận những giải pháp hời hợt. Nó chỉ có thể tự đứng lên. Đó là lý do tại sao Chúa toàn tri của chúng ta, Đấng mà chúng ta tôn thờ là "Đấng Toàn Năng", đã tự trút bỏ vinh quang và mang một hình hài yếu đuối để đến trợ giúp chúng ta. Khi một người bị tổn thương về tinh thần, tâm trí hoặc thể xác, có thể họ cần những liều thuốc giải để rút chất độc đã tích tụ ra ngoài. Linh hồn cần thời gian cho những cơn co thắt, những biểu hiện đau đớn để tống khứ nỗi cay đắng ra ngoài. Những điều này chính là những cơn đau chuyển mình để hy vọng được tái sinh. Linh hồn của con người ở trong hoàn cảnh này không nhất thiết cần được giải thích hay an ủi, nhưng cần sự thấu cảm. Linh hồn cần được lắng nghe, được đón nhận và thấu hiểu.
Tiếp theo, Marion Muller-Colard đi sâu vào việc giải thích Sách Gióp. Nhà thần học xem xét cách Satan nói bóng gió rằng lòng đạo đức gương mẫu của Gióp là một hợp đồng. Satan hỏi Chúa: "Chẳng phải chính Ngài đã bao bọc, chở che nó tư bề, nó cũng như nhà cửa và tài sản của nó sao?”
Nói cách khác: chẳng phải Ngài đã dựng hàng rào che chắn, bao bọc lấy Gióp, khiến ông không có lý do gì để hoài nghi hay phản loạn sao? Có gì lạ đâu khi Gióp tỏ ra là người "vẹn toàn và ngay thẳng"? Vấn đề đặt ra là điều gì sẽ xảy ra nếu Gióp cảm thấy sự trợ giúp của Thiên Chúa đã bỏ rơi ông. Đức Chúa, vì tin tưởng vào lòng đạo hạnh của Gióp, đã để ông cho Satan thử thách. Những tai ương kinh khủng ập xuống. Khi ấy, Gióp đã cao thượng thốt lên: "Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi".
Từ điểm này, Muller-Colard hiểu Sách Gióp như một bản giao hưởng gồm ba chương. Đầu tiên là của Lời Than Thở. Sau bảy ngày đêm im lặng, khi Gióp mở miệng, ông đã thốt ra chính những lời mà chúng ta nghe vang vọng trong căn hộ của người phụ nữ phải ngồi xe lăn. Những lời ấy trỗi dậy như một sự phản kháng từ nội tâm. Gióp không hề đề cập đến việc mất đi bảy con trai, ba con gái, 7000 chiên diê, 3000 con lạc đà, 500 đôi bò, v.v. Ở mức độ đức tin, ông chấp nhận rằng những thứ này không còn nữa. Ông biết mình không thể lấy lại chúng. Lời Than Thở của ông là một nỗ lực để nói lên sự thật và diễn tả niềm xác tín rằng không thể có lời giải thích gọn gàng nào; cơn thử thách của ông sẽ không nằm gọn trong những con số đơn giản là tội lỗi và báo ứng. Cốt lõi của vấn đề chính là cảm giác vô nghĩa và bóng tối của nỗi gian truân. Đó là những gì Lời Than Thở của Gióp nói rõ. Và đó cũng là điều mà ba người bạn của ông không thể chịu nổi khi nghe.
Những người bạn, Ê-li-phát, Bin-đát, và Xô-pha, theo nhiều cách là những người đáng ngưỡng mộ. Họ đến ngồi yên lặng bên Gióp trong cảnh hoang tàn, chia sẻ nỗi đau không thể nói lên lời của ông. Chỉ khi ông cất tiếng, họ mới bật dậy trong sự bàng hoàng, cảm thấy có bổn phận phải bảo vệ công lý nền tảng của một trật tự vũ trụ, để nhấn mạnh rằng Thiên Chúa hẳn phải có lý do cho những gì Người đã để Gióp trải qua. Gióp kiên định không lay chuyển. Ông từ chối chấp nhận rằng Chúa chỉ đang thực hiện những phép tính trong cuộc đời ông như thể đó là một bảng cân đối kế toán. Dù không được giúp đỡ, ông vẫn quyết tâm tìm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trong nỗi thống khổ của mình, ông mạnh mẽ kêu lên: "Nếu không phải là Người, thì ai đây?"
Đây là thời điểm mà chương đầu của bản giao hưởng - Lời Than Thở - tuôn chảy sang chương thứ hai, mà Muller-Colard gọi là Đe Doạ. Nó đại diện cho việc nhận ra rằng đức tin vào Chúa không đồng nghĩa với sự an toàn tuyệt đối. Gióp là người luôn cẩn trọng. Ông không chỉ sống chính trực mà còn dâng những hy lễ đền tội vượt quá yêu cầu cho những lỗi lầm vô tình xảy ra trong gia đình. Sự mất mát dạy cho ông biết mình không được bảo vệ.
Lời Than Thở là một lời bộc bạch sau chấn thương. Hãy tưởng tượng một người bị kẹt hàng giờ dưới đống đổ nát sau trận động đất. Người đó chỉ bắt đầu khóc nức nở khi khối đá được nâng lên, vì trước đó, phải dồn hết sức lực để giữ tỉnh táo và ngăn khỏi phát điên. Lời Than Thở nơi Gióp ẩn khuất trong mọi linh hồn. Nó thường ngủ yên, nhưng sẵn sàng thức giấc sau những trải nghiệm cận kề cái chết, buộc chúng ta phải nhìn qua bờ vực của sự tồn tại để vào một vực thẳm hiện hữu. Những nỗi đau cụ thể có thể khơi mào cho Lời Than Thở, nhưng Lời Than Thở không chỉ gói gọn trong những nỗi đau đó. Muller-Colard viết: “Như một mãnh thú săn mồi nó cẩn thận xoá sạch những dấu vết dẫn về hang ổ của nó".
Các bác sĩ và các vị mục tử có xu hướng tập trung vào những vết thương cá nhân, trong khi thực tế, điều đang bị đe dọa là chấn thương sâu sắc, bao trùm tất cả, xuất phát từ những câu hỏi đau lòng: "Nếu như, sau tất cả, mọi thứ đều vô nghĩa thì sao? Nếu Chúa không trợ giúp thì sao?"
Là những người tin, ở một mức độ nào đó, chúng ta có thể coi tôn giáo như một chính sách bảo hiểm. Khi tin chắc rằng mình đang sống trong sự trợ giúp của Thiên Chúa, chúng ta nghĩ mình sẽ thoát khỏi hiểm nguy. Thế giới dường như sụp đổ nếu – khi - tai hoạ ập đến. Tôi phải đối diện thế nào với những thử thách làm sụp đổ hàng rào bảo vệ mà tôi đã cẩn thận dựng lên? Tương quan của tôi với Chúa có phải là một cuộc trao đổi, khiến tôi dễ dàng đi theo lời khuyên của người vợ cứng đầu của Gióp là "Hãy nguyền rủa Thiên Chúa và chết đi"? Hay tôi sống ở chiều sâu hơn? Để giúp những người khác đang đối diện với sự đe dọa hiện sinh, tôi phải tự mình vượt qua nó. Sự an ủi mà tôi mang theo sẽ không có uy quyền nếu nó chỉ là những lời nói suông.
Chương thứ hai của bản giao hưởng về Gióp mời gọi chúng ta nhìn thẳng vào bất kỳ sự Đe dọa nào đang vây quanh, và thừa nhận sự mong manh của mình, cả về thể xác, đạo đức lẫn tâm linh. Chỉ khi những chiều sâu nội tâm này được thanh tẩy, chúng ta mới sẵn sàng cho chương thứ ba. Đó là sự khám phá ra Ân sủng. Bước ngoặt này lần đầu tiên được loan báo ở giữa cuốn sách, khi Gióp, người vốn chỉ thấy bóng tối bủa vây, đã kêu lên: "Tôi biết rằng Đấng bênh vực tôi vẫn sống, và sau cùng, Người sẽ đứng lên trên cõi đất... Chính tôi sẽ được ngắm nhìn Người, Đấng mắt tôi nhìn thấy không phải người xa lạ". Chủ đề Ân sủng bùng nổ một cách bất ngờ, không thể thấu hiểu mà không có bất kỳ sự thay đổi nào về hoàn cảnh bên ngoài.
Cái gì đã chuẩn bị cho điều đó? Không phải là giáo lý sáo rỗng của những người bạn tốt bụng của Gióp, mà là sự khai mở bên trong Gióp, một khả năng nhận thức mới. Được giải thoát khỏi những quan niệm sai lầm, mang tính ngẫu tượng về một vị thần giật dây, người ban phát ân sủng có thể tính toán được, ông đã sẵn sàng gặp gỡ Thiên Chúa trong sự bao la của mầu nhiệm Người - không còn là một vị thần bảo hộ riêng tư, mà là Vị Chúa Khác như tựa đề của Muller-Colard - Đấng không thể hiểu thấu.
Cuối cùng, Chúa trả lời Gióp, sau khi ông đã trải qua 37 chương bày tỏ Lời Than Thở và cảm giác bị đe doạ của mình, thì đó không phải là để đưa ra một luận giải cứng nhắc về sự công bằng của Chúa. Không, Chúa phán với Gióp: "Như dũng sĩ, hãy thắt chặt đai lưng, Ta sẽ hỏi ngươi: "Ngươi ở đâu khi Ta đặt nền móng cho đất?" "Có bao giờ ngươi đã đến tận nguồn biển cả?" "Liệu ngươi ra lệnh, chớp có phóng đi không?"
Chúng ta có thể tự hỏi: đây có phải là một cách tiếp cận mục vụ không? Trong trường hợp này đúng là như vậy. Điều đó giúp ông Gióp phá vỡ xiềng xích của một cuộc tìm kiếm tự cho mình là trung tâm, để ngước nhìn và thoáng thấy Thiên Chúa đích thực, Đấng trong cuốn sách vĩ đại này được gọi là El Shaddai, một danh hiệu huyền nhiệm mở ra cho nhiều cách giải thích khác nhau. Theo các giáo sĩ Do Thái, “El Shaddai” nghĩa là "Đấng phán: Đủ rồi!" Cũng như lúc khởi nguyên Thiên Chúa tạo thành vũ trụ bằng cách ấn định ranh giới cho trình trạng hỗn mang, thì Người cũng sắp đặt lại sự hỗn loạn của chúng ta bằng cách dồn nó vào biển cả, làm lộ ra những vùng đất khô ráo, rồi về sau biến chúng thành miền đất phì nhiêu.
Chúa có thể tạo ra một thế giới mới sau khi đã phá bỏ những bức tường mà chúng ta nghĩ là thế giới, những bức tường làm chúng ta thực sự ngột ngạt. Gióp lại được hít thở. Ý thức sự chóng qua của mọi sự, ông nhận ra Thiên Chúa vĩ đại hơn tất cả. Ông nhận ra rằng Thiên Chúa không hứa an toàn nhưng ban sức mạnh nhân đức để vượt qua thử thách, kể cả khi đối diện với cái chết. Ông sấp mình và thờ lạy. Gióp, người đã chịu thử thách tột cùng, thú nhận: "Trước kia, con chỉ được biết về Ngài nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến” (G 42,5). Sống trong sự trợ giúp của Thiên Chúa như thánh Bernard mời gọi không phải là việc rao bán những bảo đảm an toàn, nhưng là vượt qua Lời Than Thở và Đe Doạ để sống trong ân sủng ở một tầm mức mới. Nhờ đó giúp người khác cũng có thể tìm thấy con đường ấy.
Mary Ngọc Yến
Chuyển ngữ từ: churchlifejournal.nd.edu

.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)