Bài suy niệm Chúa Nhật VI Thường Niên Năm A

12/02/2026
72


BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN – NĂM A

Có thì phải nói có, không thì phải nói không; thêm thắt điều gì là do ác quỷ

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

Đức Kitô đến trần gian để cứu độ nhân loại và làm cho con người được sống hạnh phúc. Ngài sẽ ban thưởng nước trời cho những ai muốn trở nên hoàn thiện, nghĩa là những người cố gắng sống theo tinh thần Tám mối phúc thật và biết biến đổi đời mình thành muối, thành ánh sáng cho trần gian. Nhưng để sống các mối phúc, người môn đệ cần phải làm gì ? Trong bài Tin mừng Chúa nhật VI hôm nay, Chúa Giêsu đã đưa ra câu trả lời: Đời sống mới của người môn đệ một đàng, vừa tiếp nối đời sống đạo truyền thống của lề luật cha ông ; đàng khác, lại vươn lên đỉnh trọn lành theo khuôn mẫu của Cha trên trời là Đấng trọn lành (Mt 5, 17-37).

Đức Kitô không tuyên bố huỷ bỏ luật Môsê, Ngài cũng không chỉ xác nhận hay củng cố, nhưng kiện toàn. Ngài kiện toàn bằng cách giúp con người am hiểu tường tận những gì gói ghém trong lề luật để con người quay về với thánh ý Thiên Chúa khi ban hành lề luật. Lề luật không phải là rào cản, là  ách trói buộc nặng nề, khiến con người phải tuân, phải giữ trong tinh thần nô lệ sợ hãi; nhưng lề luật cần vươn tới mục đích mà Thiên Chúa đã giao phó, đó là sự phục vụ và tình yêu mến. Bởi điều Thiên Chúa muốn là “lòng nhân chứ không phải là lễ tế” (Mt 9,13). Như vậy, Đức Kitô đòi hỏi lề luật cần phục vụ thay vì đè bẹp con người, và một khi luật được sửa đổi để diễn tả cách trung thực thánh ý của Thiên Chúa, thì nó có một giá trị tuyệt đối, đến nỗi “cho dù trời đất có qua đi, thì một chấn, một phết trong bộ luật cũng không bỏ sót, cho đến khi mọi sự hoàn thành”. (Mt 5,18)

Lề luật được tuân giữ, không dựa vào mặt chữ bên ngoài, nhưng hệ tại nơi nội tâm con người. Kể từ nay, chính ý hướng con người sẽ là yếu tố quyết định, vì Đức Kitô đã từng khẳng định: “Tự bên trong, tự lòng người ta mà xuất ra những suy tính xấu xa, như dâm bôn, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác” (Mc 7,21). Kinh nghiệm đời thường giúp ta thấy rõ điều này. Trong thời mở cửa, chúng ta có bộ luật chặt chẽ với những khung hình phạt cụ thể dành cho những người vi phạm. Thế nhưng vẫn nhan nhản hàng hàng giả, hàng nhái và đặc biệt tệ buôn lậu, tham nhũng còn được xem là quốc nạn. Thì ra, một quy định dù chặt chẽ đến đâu vẫn chưa đủ, nếu cái tâm con người không biết đón nhận và tuân hành với tình yêu mến.

Trong bài đọc thứ nhất, trích từ sách Huấn Ca nói cho chúng ta rằng: “Trước mặt con người là sự sống và sự chết, sự an lành và  sự dữ, họ thích thứ nào thì họ được thứ ấy. Thiên Chúa luôn luôn nhìn thấy mọi loài và thấu suốt hành động của con người” (Hc 15,16-21). Như thế, chúng ta có hai con đường để lụa chọn: con đường được vạch ra bởi các giới răn là con đường sống, con đường sự lành; con đường thứ hai thực ra không phải là đường mà là muốn đi đâu thì đi, không có chỉ dẫn, không có định hướng, không có ngăn cản, đó là con đường lửa, con đường sự dữ, con đường sự chết. Chúa Giêsu đến để chỉ cho con người thấy đâu là giá trị cao cả nhất và cũng là quy luật cao cả nhất của cuộc sống. Giá trị và quy luật ấy chính là tình yêu. Một ngôi nhà đẹp đẽ đến đâu mà thiếu vắng tình người thì cũng giống như một nghĩa địa ; một xã hội tiến bộ đến đâu mà thiếu tình người thì chẳng khác nào một bãi sa mạc. Chúa Giêsu đến không phải để dẹp bỏ luật pháp nhưng là để kiện toàn, bằng cách đem lại cho nó một linh hồn, một sức sống. Linh hồn và sức sống ấy chính là tình yêu thương. Như thánh Phaolo nói với chúng ta trong bài đọc thứ hai: “ Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến người” ( 1 Cr 2,9 ).

Lời Chúa nói với các môn đệ cũng là lời Ngài đang nói với mỗi người chúng ta hôm nay. Cần tuân giữ luật, tuy nhiên sự tuân giữ ấy phải tránh thái độ nệ luật, có nghĩa là chỉ giữ luật theo mặt chữ bên ngoài mà không gửi gắm một tâm tình xứng hợp bên trong. Luật tối thượng là Tình yêu (Gl 5,14). Nếu tôi yêu mến Chúa, yêu mến anh chị em thực sự, thì chẳng những tôi không giết người, không ngoại tình, không thề gian thề dối, mà hơn nữa, tôi còn cố gắng hoà thuận với anh chị em, chung thuỷ trong hôn nhân và chân thật trong khi giao tiếp. Nói cách khác, tình yêu ví như thân cây, còn mọi điều khoản trong lề luật là hoa, là lá; nếu tách rời khỏi cây tình yêu, thì mọi luật lệ chẳng còn ý nghĩa, có chăng chỉ còn là cái xác không hồn.

Con người càng lắng nghe tiếng Chúa và hành động theo ý Ngài diễn tả qua các luật lệ đúng đắn, qua tiếng lương tâm trung thực thì càng thấy mình được tự do: “ có thì phải nói có, không thì phải nói không; thêm thắt điều gì là do ác quỷ” ( Mt 5,37 ).

Mahatma Gandhi, một con người được người dân Ấn Độ tôn kính như một vị thánh của dân tộc họ. Trong cuộc đời của mình, ông có ghi lại kinh nghiệm sau đây : Một hôm Gandhi ở trường về, vì sợ bị trách mắng nên đã nói dối mẹ một việc nhỏ. Mẹ biết con không thành thật nên hôm đó bà nhất định bỏ ăn cơm. Gandhi đã hết lời nài xin nhưng mẹ vẫn không chịu ăn. Cuối cùng bà giải thích: thà mẹ thấy con chết còn hơn là thấy con nói dối. Vì nói dối là tỏ ra con có một tâm hồn khiếp nhược. Sinh con ra như thế là một nỗi nhục cho mẹ. Mẹ không muốn sống nữa. Gandhi liền dũng cảm đi vào nhà bếp lấy một cục than hồng để vào bàn tay và nói : con thề với mẹ suốt đời con sẽ không bao giờ nói dối nữa. Bà mẹ mừng quá, ôm con vào lòng, vừa khóc vừa nói : có như thế mẹ mới đủ can đảm sống với con. Gandhi thường nói : vết sẹo nơi tay tôi là hình bóng mẹ tôi, nó không bao giờ rời bỏ tôi. Đó là vị thần phù hộ tôi luôn sống trung thực và trọng danh. “Thà mẹ thấy con chết còn hơn là thấy con nói dối”. Có thể lời nói cứng rắn đó của người mẹ đã giúp cho Gandhi trở thành một vĩ nhân. Vì nhờ lời nói đó mà ông luôn sống trung thực, không bao giờ nói dối. Bởi trung thực là một trong những nền tảng toà nhà nhân cách của con người.

Đức tin trưởng thành đòi hỏi mỗi người Kitô hữu chúng ta tuân giữ và sống trung thực những thực hành lề luật, nhưng việc tuân giữ phải được soi dẫn bởi tình yêu, chứ không phải theo thói quen máy móc, hoặc vì sức ép của người khác. Có như vậy, lề luật mới không phải là rào cản, nhốt kín ta trong âu lo, bối rối sợ sệt, nhưng là cột mốc chỉ đường, hướng dẫn chúng ta đến chỗ sống chan hoà với Chúa và với anh chị em.

 

                                                                                          Linh mục Giuse Phan Cảnh

                                                                          ĐCV Thánh Phaolo Lê Bảo Tịnh Thanh Hóa