Bài suy niệm Chúa nhật III Mùa Chay
Bài suy niệm nằm trong các bài giảng của Cha Roberto Pasolini, cha giảng thuyết của Phủ Giáo hoàng, nói về “cơn khát” sâu xa của con người. Dân Israel khát nước trong sa mạc, còn người phụ nữ Samari khát ý nghĩa và hạnh phúc. Qua cuộc gặp gỡ bên giếng, Đức Giêsu bày tỏ tình yêu Thiên Chúa và ban “nước hằng sống”. Khi con người can đảm nhìn nhận sự yếu đuối của mình, họ có thể gặp gỡ Thiên Chúa và nhận được niềm hy vọng và bình an thật.
Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
Người phán : “Các ngươi chớ cứng lòng.”
Bài suy niệm Ga 4, 5-42
Sau một chuyến thoáng qua trên núi Tabor, nơi chúng ta được chiêm ngắm vẻ đẹp của Đức Kitô và sức mạnh thấu suốt của lời Người, thì trong Chúa nhật III Mùa Chay này chúng ta lại được dẫn trở về sa mạc.
Kinh nghiệm của dân Israel, trong cuộc xuất hành tiến về Đất Hứa, khi họ phải chịu cơn khát khủng khiếp, đã báo trước và hình bóng cho kinh nghiệm của Chúa Giêsu: Người khát nước và “mệt mỏi vì đường đi” (Ga 4,6) trong hành trình tìm kiếm con người đang lưu đày khỏi chính mình.
Trong Chúa nhật này chúng ta được đặt trước “cơn khát”, một nhu cầu căn bản mà tất cả chúng ta đều cảm nghiệm hằng ngày. Khi nhu cầu ấy không được thỏa mãn, nó thậm chí có thể khiến chúng ta bộc lộ những điều tệ nhất của mình.
Dân Israel trong sa mạc, vì “thiếu nước”, đã than trách ông Môsê:
“Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập để làm gì ?
Có phải là để cho chúng tôi, con cái chúng tôi,
và súc vật của chúng tôi bị chết khát hay không ? (Xh 17,3)
Người phụ nữ gặp Chúa Giêsu bên giếng Giacóp thì không than trách, nhưng dường như cũng cam chịu việc mỗi ngày phải lặp lại những hành động quen thuộc mà không bao giờ thực sự được thỏa mãn.
Trước lời xin nước của một người lạ vừa gặp, người phụ nữ không rút lui, nhưng bước vào cuộc đối thoại. Dần dần bà khám phá rằng đằng sau lời xin đó lại ẩn chứa một lời đề nghị đặc biệt:
“Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban,
và ai là người nói với chị : ‘Cho tôi chút nước uống’,
thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” (Ga 4,10)
Nhiều khi chúng ta không nhận ra rằng đằng sau những câu hỏi và thách đố đang chất vấn mình, chính là cách bình thường mà Thiên Chúa dùng để thử xem chúng ta có sẵn sàng mở lòng trước một niềm hy vọng lớn hơn hay không.
Đó là niềm hy vọng mà theo lời thánh Phaolô “không làm thất vọng”, vì nó không còn chỉ dựa trên nhu cầu, mà còn dựa trên lời hứa của Thiên Chúa:
“Xin cho tôi thứ nước ấy, để tôi không còn khát nữa
và khỏi phải đến đây lấy nước.” (Ga 4,15)
Sau khi khơi lên trong lòng người phụ nữ một khát vọng sống và thắp lại hy vọng để bà có thể diễn tả điều đó, Chúa Giêsu dần dần dẫn bà đến chỗ bình thản bày tỏ sự thật về chính mình:
“Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” (Ga 4,16)
Như thể nắm tay bà, Chúa dịu dàng giúp người phụ nữ nhận ra rằng bà vẫn chưa thể làm nguôi cơn khát sâu thẳm trong lòng:
“Tôi không có chồng.” (Ga 4,17)
Chỉ khi thừa nhận sự mong manh này, người phụ nữ Samari mới có thể gặp được trong thân xác của Ngôi Lời tình yêu Thiên Chúa được tuôn đổ (Rm 5,5) vào trái tim kinh nghiệm con người của chúng ta.
Đến mức bà có thể nói:
“Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm." (Ga 4,29)
Điều này không gây ép buộc hay xấu hổ, trái lại trở thành một kinh nghiệm nhận được một món quà bình an bất ngờ:
"Thưa anh em, một khi đã được nên công chính nhờ đức tin,
chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.
Vì chúng ta tin, nên Đức Giê-su đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa,
như chúng ta đang được hiện nay ;
chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa." (Rm 5,1-2)
Cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và người phụ nữ này tươi mới và xúc động đến nỗi có thể làm cho niềm hy vọng đã được đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần, ngay từ ngày chúng ta chịu phép Rửa, lại lưu chuyển mạnh mẽ.
Sự đơn điệu của những vòng quay hằng ngày – nơi chúng ta tìm cách làm dịu cơn khát còn lại – luôn được lời Chúa phá vỡ, lời có thể đưa chúng ta trở về nguồn suối nội tâm của mình.
Giá phải trả duy nhất là can đảm nhìn nhận sự thật về bản thân.
Bước đầu tiên hướng đến cuộc gặp gỡ đáng mong ước này luôn do chính Chúa thực hiện. Ngài cho phép chúng ta thú nhận sự yếu đuối của mình chỉ sau khi đã bày tỏ sự thật về tình yêu Ngài dành cho chúng ta.
Chúng ta biết chắc điều đó, bởi vì:
“Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta,
ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi.” (Rm 5,8)
Không phải chỉ vì nghe người khác nói, nhưng bởi vì:
“chính chúng tôi đã nghe và biết rằng
Người thật là Đấng cứu độ trần gian.” (Ga 4,42)
Nguồn:vaticannews.va


.jpg)
.jpg)