BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH – NĂM A
Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
Thông thường, ai trong chúng ta cũng nghĩ đến mình hơn nghĩ đến người khác. Ai trong chúng ta cũng muốn sống cho mình, cho gia đình mình hơn là sống cho tha nhân. Ai trong chúng ta cũng thích sống ích kỷ hơn sẵn sàng hy sinh vì người khác. Nhưng tính ích kỷ không bao giờ mang tính trung lập. Sống ích kỷ là sống khép kín tâm hồn. Vì khi chúng ta chỉ nghĩ đến mình, không những chúng ta làm cho người khác bớt hạnh phúc mà chính chúng ta cũng chết đi một phần cao cả trong tâm hồn của mình. Tính liên đới trong xã hội không phải là một thứ xa xỉ phẩm được thêm vào các tương quan giữa người với người, hoặc như một thứ trang trí tô điểm thêm cho nhân cách của chúng ta mà chính là một đòi hỏi thiết yếu của sứ mệnh làm người. Chúng ta càng nên người hơn khi chúng ta biết sống và chết cho tha nhân. Nhân cách chúng ta càng phong phú hơn khi chúng ta biết trao ban. Và xã hội sẽ càng tốt đẹp và đáng sống hơn khi có nhiều người biết sống và chết cho tha nhân.
Chúa Nhật IV Phục Sinh hôm nay Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta rằng, chỉ có một Đức Giêsu Kitô mà thôi, Ngài là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúng ta chỉ có thể có sự sống đích thực khi chúng ta đi trong con đường là chính Ngài. Chúng ta chỉ có thể biết được chân lý về con người, nghĩa là chúng ta chỉ có thể biết mình bởi đâu mà ra, mình sẽ đi về đâu và mình sẽ phải sống như thế nào, đó là chúng ta chỉ có sự sống trong và nhờ Đức Kitô mà thôi.
Chúa là Mục tử, Người dẫn lối chỉ đường cho chúng ta đi. Người mục tử dẫn đàn chiên tới đồng cỏ và suối nước trong. Người mục tử lo bảo vệ đàn chiên khi có sói rừng tới muốn ăn thịt chiên. Đức Giêsu chính là Vị Mục tử Thiên Chúa ban cho đàn chiên. Vị mục tử nhân hậu này luôn cảm thương đàn chiên của mình (Mt 9,36), đối nghịch với những mục tử không biết thương xót đàn chiên, chỉ lo tìm tư lợi và vun xén cho mình. Chúa Giêsu là cửa chuồng chiên. Ngài là cửa để chiên vào ra, qua Ngài chiên có chỗ an toàn để ngơi nghỉ, qua Ngài những người chăn chiên được ký thác dẫn chiên đến chốn an lành: “ Ta đến để chúng được sống, và được sống dồi dào” (Ga 10, 10). Đức Giêsu đã đến để chúng ta được sống. Ngài trở thành lương thực nuôi sống chúng ta qua Bí tích Thánh Thể. Ngài có lời đem lại sự sống đời đời. Ngài là sự thật giải phóng chúng ta khỏi nô lệ. Ngài mạc khải cho biết Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng.
Thánh Phêrô đã nhắc nhở chúng ta điều đó trong bài đọc thứ hai: “ Xưa kia anh em như những chiên lạc, nhưng giờ đây anh em đã trở về cùng với vị Mục Tử, Đấng chăm sóc linh hồn anh em” ( 1 Pr 2, 25). Đức Kitô là Mục Tử đích thực của chúng ta, bởi vì chính Ngài đã thí mạng sống cho chúng ta.
Theo gương Mục Tử Nhân Lành Giêsu, nhiều người đã hy sinh cuộc đời của mình cho đàn chiên. Cha Đamien là một ví dụ. Một hôm Đức Giám mục Louis Maigret đặc trách đảo Molokai thông báo kêu gọi các linh mục tình nguyện hy sinh đến đó phục vụ. Và một linh mục người Bỉ, 33 tuổi, đẹp trai, thông minh, khỏe mạnh, đã hăng hái tình nguyện đáp lời. Đó là cha Đamien, sau này Ngài mang thêm biệt danh “Bạn những người phong cùi”.
Buổi chiều ngày 10 tháng 5 năm 1873, Cha Đamien đến đảo Molokai. Trong nhà thờ đông nghẹt những người cùi hủi, da họ ngăm ngăm đen, với mùi hôi tanh nồng nặc. Đức Giám mục đứng trên cung thánh cùng với Cha Đamien, quay xuống giới thiệu Ngài với giáo dân: “Các con thân mến, đã bao năm nay, các con hằng ao ước có một linh mục đến với các con, thì đây, cha giới thiệu cha Đamien, một linh mục người Bỉ, đã tình nguyện đến với các con. Các con có hài lòng và sung sướng không?”.
Đức Giám mục vừa giới thiệu xong, cả nhà thờ xôn xao thì thầm to nhỏ. Cha Đamien đứng cạnh Đức Giám mục chẳng hiểu ất giáp gì cả. Rồi người ta thấy những người cùi hủi từ từ tiến lên cung thánh, dáng điệu đơn sơ chất phác. Càng nhìn những người khốn khổ ấy tiến gần, cha Đamien càng sởn tóc gáy. Trông họ khác nào như những thây ma còn sống, những thi hài biết đi, những quái thai dị dạng mất hẳn dáng người. Họ làm gì đây? Họ tiến đến bên Cha. Tiến đến bên cha gần hơn. Rồi họ sờ vào mặt, vào tay, vào áo Cha! Lúc ấy cha Đamien sợ hãi quá mới hỏi Đức Giám mục: Thưa Đức cha, họ làm gì thế? Họ nói gì vậy? Đức Giám mục âu yếm nhìn Cha trả lời: Ồ! Họ nói, họ không thể tưởng tượng được, cũng không bao giờ dám nghĩ có được một người từ phương xa, chẳng bà con họ hàng huyết thống gì với họ, trái lại, còn trẻ trung, đẹp trai, thông minh, không cùi hủi như họ, cha lại tình nguyện xin đến phục vụ họ trên hồn đảo Molokai cùng khổ, cô đơn, bị nguyền rủa này. Chính vì họ không tin vào mắt mình, nên họ mới đến sờ mó vào người Cha, vào áo Cha để kiểm soát xem họ đang sống thực hay chỉ là một giấc mơ, hoặc xem cha có thực sự là người hay là ma? Và nếu là người thật, thì Cha có bị cùi hủi khốn khổ bất hạnh như họ không?
Rồi sau đó họ thì thầm với nhau qua nét mặt hãnh diện sung sướng: Không! Cha đẹp quá! Cha tốt quá! Thời gian trôi qua. Dần dần với những năm tháng chồng chất sống trên đảo Molokai, cha Đamien đã hòa đồng, đã hội nhập hẳn với xã hội cùi hủi bé nhỏ đáng thương này. Một xã hội bất hạnh bị người đời nguyền rủa và ngay cả cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, bạn hữu của chính họ, cũng đã cam tâm giơ tay gạt họ ra ngoài lề xã hội. Dần dần, Cha Damien không còn cảm thấy nhờm tởm gớm ghiếc như thuở ban đầu gặp gỡ. Từ đó Ngài yêu thương họ chân tình, thắm thiết. Nói đúng hơn Ngài đã yêu Đức Kitô bị bỏ rơi, bị đau khổ trong họ nên chẳng còn sợ hãi gì. Mỗi lần phục vụ những con người cùi hùi bất hạnh này. Ngài đã nhận thấy bóng dáng Đức Kitô đang ẩn hiện qua họ. Chúa đang tiếp diễn cuộc khổ nạn của Ngài qua những con người khốn khổ này.
Mười hai năm sau, năm 1885, đến lượt Cha Đamien cũng phát hiện chính mình đã mắc bệnh cùi hủi lúc nào không hay. Rồi thân hình Cha lở loét, nhức nhối, tanh hôi. Khuôn mặt Cha sần sùi, đen đủi, những khối u nổi trông rất dễ sợ. Cuối cùng, cha đã chết vì chăm sóc đàn chiên của mình là những người cùi.
Thế giới hôm nay rất cần nhiều những con người, những mục tử dám sống và chết vì tha nhân như cha Đamien. Thế giới ngày nay sẽ trở nên bi thảm, khô cằn và cũng đáng nguyền rủa, nếu không còn ai dám sống và chết cho tình đồng loại. Cuộc sống và cái chết vì tình đồng loại của Cha thực sự đã trở thành nguồn cảm hứng cho con người biết yêu thương và phục vụ nhau hơn. Đã có rất nhiều bạn trẻ tình nguyện bước theo vết chân Cha để phục vụ cho hạnh phúc của nhân loại. Sự hy sinh cuộc đời của Cha đã nói cho chúng ta rằng: Cuộc sống vẫn đáng sống hơn là tuyệt vọng. Hôm nay cũng là ngày cầu nguyện cách đặc biệt cho ơn gọi thánh hiến. Chúng ta hãy cầu nguyện, để có nhiều người quảng đại đáp trả tiếng Chúa gọi sống đời dâng hiến trong bậc sống linh mục và tu sĩ để phục vụ anh chị em trong nhân loại này.
Linh mục Giuse Phan Cảnh
ĐCV Thánh Phaolo Lê Bảo Tịnh Thanh Hóa

.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)