Bài giảng Đức Thánh cha – Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A

22/05/2026
90
Bài giảng Đức Thánh Cha – Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A

 

BÀI GIẢNG ĐỨC THÁNH CHA – LỄ CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG NĂM A
 

Đây là những bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong các thánh lễ và các buổi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng với các tín hữu vào lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A.

Đức Phanxicô, Huấn dụ lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống năm A (28/5/2023) - Thần Khí giải thoát chúng ta khỏi sợ hãi

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (28/5/2023) - Chúa Thánh Thần hoạt động

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (31/5/2020) - Chúa Thánh Thần là Đấng mang đến sự dồi dào

Đức Phanxicô, Huấn dụ lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống Năm A (31/5/2020) - Chúa Giêsu thiết lập Giáo hội bằng sự tha thứ

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (04/6/2017) - Chúa Thánh Thần là Đấng thực hiện những điều mới mẻ

Đức Phanxicô, Huấn dụ lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (08/6/2014) - Cộng đoàn Giáo hội làm cho người ta kinh ngạc

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (08/6/2014) - Chúa Thánh Thần dạy dỗ, nhắc nhớ và làm cho chúng ta nói

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (12/6/2011) - Lễ “rửa tội” của Giáo hội

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (12/6/2011) - Chúa Thánh Thần làm cho Giáo hội sinh động

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (11/5/2008) - Thanh tẩy trong Thánh Thần

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (11/5/2008) - Sự đa dạng và sự hiệp nhất đan xen với nhau


Đức Phanxicô, Huấn dụ lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống năm A (28/5/2023) - Thần Khí giải thoát chúng ta khỏi sợ hãi

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay, Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Tin Mừng đưa chúng ta đến Phòng Tiệc Ly, nơi các tông đồ đã trú ẩn sau khi Chúa Giêsu chịu chết (Ga 20:19-23). Vào chiều Phục Sinh, Đấng Phục Sinh hiện diện trong chính hoàn cảnh sợ hãi và đau khổ đó, và thổi hơi trên họ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (c. 22). Như vậy, với ơn Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu muốn giải thoát các môn đệ khỏi nỗi sợ hãi giam hãm họ trong nhà, để họ có thể ra đi trở thành chứng nhân và loan báo Tin Mừng. Vì thế, chúng ta hãy dừng lại suy tư đôi chút về điều này: Thần Khí giải thoát chúng ta khỏi sợ hãi.

Các môn đệ đã đóng cửa lại, Tin Mừng nói, “vì sợ hãi” (c. 19). Cái chết của Chúa Giêsu đã làm họ tan nát, những giấc mơ của họ đã vỡ vụn, những hy vọng của họ đã tan biến. Và họ nhốt mình trong nhà. Không chỉ là trong căn phòng, mà còn bên trong trái tim. Tôi muốn nhấn mạnh điều này: bị nhốt mình bên trong. Đã bao nhiêu lần chúng ta tự nhốt mình bên trong chính mình? Đã bao nhiêu lần, vì một hoàn cảnh khó khăn nào đó, một vấn đề cá nhân hay gia đình nào đó, nỗi đau khổ đang ghi dấu chúng ta hay sự dữ mà chúng ta hít thở quanh mình, chúng ta có nguy cơ dần dần rơi vào tình trạng mất hy vọng và thiếu can đảm để tiến tới? Điều này xảy ra nhiều lần. Và rồi, giống như các tông đồ, chúng ta tự nhốt mình, nhốt mình trong mê cung của những lo toan.

Anh chị em thân mến, việc “tự nhốt mình” này xảy ra khi, trong những tình huống khó khăn nhất, chúng ta để cho nỗi sợ hãi lấn át và tạo nên “tiếng vang dội” bên trong chúng ta. Do đó, nguyên nhân là sự sợ hãi: sợ không làm được, sợ đơn độc đối mặt với những trận chiến hàng ngày, sợ mạo hiểm và sau đó thất vọng, lựa chọn sai lầm. Nỗi sợ hãi làm tê liệt, bất động. Và nó làm cô lập: chúng ta hãy nghĩ đến nỗi sợ hãi của người khác, của những người ngoại quốc, của những người khác biệt, của những người suy nghĩ khác. Và thậm chí có thể có sự sợ hãi Chúa: rằng Người sẽ trừng phạt tôi, rằng Người nổi giận với tôi... Nếu chúng ta nhường chỗ cho những nỗi sợ hãi sai lầm này, những cánh cửa sẽ đóng lại: những cánh cửa của trái tim, của xã hội, và cả những cánh cửa của Giáo hội! Ở đâu có sự sợ hãi, ở đó cửa đóng lại. Và điều đó không tốt.

Tuy nhiên, Tin Mừng đưa ra cho chúng ta phương thuốc của Đấng Phục Sinh: Chúa Thánh Thần. Người giải phóng khỏi nhà tù của sự sợ hãi. Khi lãnh nhận Thần Khí, các tông đồ - chúng ta mừng lễ hôm nay - rời phòng tiệc ly và đi vào thế giới để tha tội và loan báo tin mừng. Nhờ Người, nỗi sợ hãi được khắc phục và các cánh cửa mở ra. Bởi vì đây là điều mà Thần Khí làm: Người làm cho chúng ta cảm thấy sự gần gũi của Thiên Chúa và vì thế tình yêu của Người xua tan sợ hãi, soi sáng con đường, an ủi và nâng đỡ trong nghịch cảnh. Vì thế, trước những nỗi sợ hãi và đóng cửa, chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần cho chúng ta, cho Giáo hội và cho toàn thế giới: để một Lễ Hiện Xuống mới có thể xua đuổi những nỗi sợ hãi đang tấn công chúng ta và thắp lại ngọn lửa tình yêu của Thiên Chúa.

Xin Đức Maria Rất Thánh, Đấng đầu tiên được đầy tràn Thánh Thần, chuyển cầu cho chúng ta.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (28/5/2023) - Chúa Thánh Thần hoạt động

Lời Chúa ngày hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Thánh Thần đang hoạt động. Chúng ta thấy Người hành động trong ba thời điểm: trong thế giới mà Người đã tạo dựngtrong Giáo hội và trong trái tim của chúng ta .

1. Trên hết, trong thế giới mà Người đã tạo dựng, trong công trình sáng tạo. Ngay từ đầu, Chúa Thánh Thần đã hoạt động: “Lạy Chúa, sinh khí của Ngài, xin gửi tới, và mọi loài được dựng nên”, chúng ta đã cầu nguyện như thế trong Thánh Vịnh (104,30). Thực tế, Người là creator SpiritusThần khí sáng tạo (cfr S. Agostino, In Ps., XXXII,2,2): đây là cách Giáo Hội đã kêu cầu Người trong nhiều thế kỷ. Nhưng, chúng ta có thể tự hỏi, Thần Khí làm gì trong việc tạo dựng thế giới? Nếu mọi sự đều bắt nguồn từ Chúa Cha, nếu mọi sự được tạo thành nhờ Chúa Con, thì vai trò cụ thể của Thần Khí là gì? Một Giáo Phụ vĩ đại của Giáo Hội, Thánh Basilio, đã viết: “Nếu bạn cố loại trừ Thần Khí ra khỏi công trình tạo dựng, thì mọi sự đều trộn lẫn và sự sống của chúng xuất hiện cách hỗn độn, vô trật tự” ( Spir ., XVI,38). Đây là vai trò của Thần Khí: chính là Đấng, ngay từ đầu và mọi lúc, đã làm cho các thực tại được tạo dựng chuyển từ hỗn độn sang trật tự, từ phân tán sang liên kết, từ rối ren sang hài hòa. Chúng ta luôn luôn thấy cách thức hoạt động này trong Giáo hội. Tóm lại, Người mang đến cho thế giới sự hài hòa; do đó Người “điều khiển dòng thời gian và canh tân bộ mặt trái đất” (Gaudium et spes , 26;Tv 104,30). Hãy canh tân trái đất, nhưng hãy cẩn thận: không phải bằng cách thay đổi thực tại, nhưng bằng cách làm cho nó được trở nên hài hòa; đây là phong cách của Thần Khí vì chính Người là sự hài hòa: Ipse harmonia est (cf. St. Basil , In Ps. 29,1), như một Giáo phụ đã nói.

Ngày nay trên thế giới có quá nhiều bất hòa, quá nhiều chia rẽ. Tất cả chúng ta đều được kết nối nhưng chúng ta lại thấy mình bị rạn nứt trong tương quan với nhau, bị mê hoặc bởi sự thờ ơ và bị áp bức bởi sự cô đơn. Quá nhiều chiến tranh, quá nhiều xung đột: dường như sự dữ mà con người có thể gây ra là không thể tưởng tượng được! Nhưng, trên thực tế, kẻ thúc đẩy sự thù địch của chúng ta là thần dữ, tinh thần chia rẽ, tức ma quỷ, tên của nó thực sự có nghĩa là "kẻ chia rẽ". Vâng, đi trước và vượt trên sự dữ cũng như sự đổ vỡ của chúng ta, có một ác thần “lừa dối cả trái đất” (Ap. 12.9). Hắn ưa thích đối kháng, bất công, vu khống, đó là niềm vui của hắn. Và, đối mặt với sự xấu xa của sự bất hòa, thì những nỗ lực của chúng ta để xây dựng sự hòa hợp là không đủ. Như thế, ở cao điểm của Lễ Vượt Qua, cao điểm của ơn cứu độ, Chúa Giêsu đã tuôn đổ Thần Khí tốt lành của Người trên thế giới thụ tạo để kháng cự thần dữ. Thần Khí tốt lành ấy là Chúa Thánh Thần, Đấng chống lại tinh thần chia rẽ vì Người là sự hài hòa, là Thần Khí hiệp nhất vốn đem lại bình an. Mỗi ngày chúng ta hãy kêu cầu Người xuống trên trên thế giới của chúng ta, trên cuộc sống chúng ta và trước mọi chia rẽ!

2. Ngoài việc tạo dựng, chúng ta còn thấy Chúa Thánh Thần làm việc trong Giáo Hội, bắt đầu từ ngày Lễ Ngũ Tuần. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng từ đầu Chúa Thánh Thần không khởi xướng Giáo hội bằng cách truyền đạt các chỉ dẫn rõ ràng và các quy tắc phổ quát cho cộng đoàn, nhưng Người hiện xuống trên từng Tông đồ: mỗi người nhận được những đặc ân và đặc sủng khác nhau. Tất cả sự đa dạng của những ân huệ khác nhau này có thể dẫn đến sự nhầm lẫn, nhưng Chúa Thánh Thần, giống như trong cuộc sáng tạo, thích tạo ra sự hài hòa thực sự bắt đầu từ sự đa dạng. Sự hài hòa của Thần khí không phải là một mệnh lệnh được áp đặt và chấp thuận, không; trong Giáo hội có một trật tự "được tổ chức theo sự đa dạng của các ân tứ của Chúa Thánh Thần" (St. Basil , Spir., XVI,39). Thật vậy, vào Lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần ngự xuống dưới nhiều hình lưỡi lửa: Người ban cho mỗi người khả năng nói các ngôn ngữ khác (x. Cv 2,4) và nghe được ngôn ngữ của mình từ môi miệng của kẻ khác (x. Cv 2,6.11). Vì vậy, Chúa Thánh Thần không tạo ra một ngôn ngữ giống nhau cho mọi người, Người không xóa bỏ những khác biệt, không cào bằng những nền văn hóa đặc thù, nhưng Người làm hài hòa mọi thứ mà không đánh đồng, không rập khuôn. Đây là điều khiến chúng ta bây giờ phải suy nghĩ, đó là: sự cám dỗ của “chủ nghĩa đi lùi” thì tìm cách đồng nhất hóa mọi thứ chỉ theo các nguyên tắc bề ngoài mà không phải thực chất bên trong. Hãy tập trung vào khía cạnh này, rằng hoạt động của Thần khí không bắt đầu từ một dự án có cấu trúc, như chúng ta thường làm, điều thường khiến chúng ta mê lạc trong các chương trình hay hoạch định của mình; không, Chúa Thánh Thần khởi sự bằng cách ban tràn những ân huệ nhưng không và dồi dào, không thể dự đoán cũng chẳng thể phóng đại. Thật vậy, vào ngày Lễ Ngũ Tuần, bản văn Kinh Thánh nhấn mạnh, "mọi người đều được tràn đầy Chúa Thánh Thần" (Cv 2:4). Tất cả được lấp đầy, đây là cách cuộc sống của Giáo hội bắt đầu: không phải từ một kế hoạch rõ ràng và chính xác, nhưng từ việc cảm nghiệm cùng một tình yêu của Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần tạo ra sự hài hòa như vậy đó, Người mời gọi chúng ta nếm trải sự ngỡ ngàng bởi tình yêu Thiên Chúa cũng như bởi những ân huệ của Người hiện diện nơi những người khác. Như Thánh Phaolô đã nói với chúng ta: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí […] Vì tất cả chúng ta đã chịu phép rửa bởi một Thánh Thần để thành một thân thể ” (1 Cr 12,4.13). Nhìn mọi anh chị em trong đức tin như một phần của cùng một thân thể mà tôi thuộc về: đây là cái nhìn hài hòa của Thần Khí, đây là con đường mà Người chỉ cho chúng ta!

Và Thượng Hội đồng đang diễn ra là - và phải là - một cuộc hành trình theo Thần Khí: không phải là một nghị viện để đòi quyền và nhu cầu theo chương trình nghị sự của thế giới, không phải là cơ hội để thả mình trôi theo chiều gió cuốn đi, mà là cơ hội để trở nên mềm dẻo với hơi thở của Thần Khí. Bởi vì, trong biển cả của lịch sử, Giáo hội chỉ dong buồm với Chúa Thánh Thần, là “linh hồn của Giáo hội” (Thánh Phaolô VI , Diễn từ tại Hồng y đoàn nhân dịp mừng bổn mạng, 21 tháng 6 năm 1976 ), là trái tim của tính hiệp hành, là động cơ của sứ mạng truyền giáo. Không có Chúa Thánh Thần, Giáo Hội trơ trơ vô hồn, đức tin chỉ là học thuyết, luân lý chỉ là bổn phận, chăm sóc mục vụ chỉ là công việc. Thỉnh thoảng chúng ta nghe nói rằng những nhà tư tưởng, các thần học gia đưa ra cho chúng ta những giáo thuyết lạnh lùng, như thể toán học, bởi vì thiếu Thần Khí. Thay vào đó, với Chúa Thánh Thần, đức tin là sự sống, tình yêu của Chúa chinh phục được chúng ta, và niềm hy vọng của chúng ta được tái sinh. Chúng ta hãy đặt Chúa Thánh Thần trở lại trung tâm của Giáo hội, nếu không lòng chúng ta sẽ không bừng cháy lửa yêu mến Chúa Giêsu, thay vào đó lại yêu chuộng chính bản thân mình. Chúng ta hãy đặt Chúa Thánh Thần ở đầu và ở trung tâm của các công việc trong tiến trình Thượng Hội Đồng. Bởi vì “Ngày nay, Giáo hội cần Chúa Thánh Thần hơn hết! Vì vậy, chúng ta hãy thưa với Người mỗi ngày: Lạy Chúa, xin hãy đến!” (x. Id. , Buổi tiếp kiến chung , 29 tháng 11 năm 1972). Và chúng ta cùng nhau bước đi, bởi vì Chúa Thánh Thần, như trong Lễ Ngũ Tuần, thích ngự xuống khi “mọi người đang ở cùng nhau” (x. Cv 2:1). Phải, để tỏ mình ra cho thế giới, Người đã chọn thời điểm và địa điểm mà mọi người ở bên nhau . Do đó, Dân Chúa, để được tràn đầy Thần Khí, phải cùng nhau bước đi, làm nên một Giáo hội Hiệp hành. Sự hòa hợp trong Giáo Hội được canh tân như thế này: cùng nhau bước đi với Chúa Thánh Thần ở trung tâm. Anh chị em thân mến, chúng ta hãy xây dựng sự hài hòa trong Giáo hội!

3. Cuối cùng, Thánh Thần tạo nên sự hài hòa trong con tim chúng ta. Chúng ta thấy điều đó trong Tin Mừng, nơi Chúa Giêsu, vào chiều Phục Sinh, thổi hơi trên các môn đệ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20:22). Người ban Thánh Thần với một mục đích cụ thể: tha tội, nghĩa là giao hòa các tâm hồn, làm hòa hợp những con tim bị dày xéobởi sự dữ, tan nát bởi những vết thương, bị xâu xé bởi cảm giác tội lỗi. Chỉ có Chúa Thánh Thần mới khôi phục lại sự hài hòa trong tâm hồn, bởi vì chính Người là Đấng tạo ra “sự thân mật với Thiên Chúa” ( St. Basil , Spir . , XIX,49). Nếu chúng ta muốn sự hài hòa, chúng ta hãy tìm kiếm Người, chứ không phải mưu cầu những thứ lấp đầy thế gian. Chúng ta hãy khẩn cầu Chúa Thánh Thần mỗi ngày, hãy bắt đầu mỗi ngày bằng việc cầu nguyện với Người, hãy trở nên ngoan ngoãn với Người!

Và hôm nay, trong ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, chúng ta hãy tự hỏi: tôi có ngoan ngoãn trước sự hài hòa của Thần Khí không? Hay tôi theo đuổi những dự án của tôi, những ý tưởng của tôi mà không để cho mình được uốn nắn, không để Chúa Thánh Thần thay đổi tôi? Cách thức sống đức tin của tôi có ngoan nguỳ trước Thần Khí không, hay cứng đầu? Nhất quyết dính chặt vào chữ nghĩa, vào cái gọi là giáo điều với những cách thức lạnh lùng trong cuộc sống. Tôi có vội vàng phán xét, chỉ tay và đóng sầm cửa vào mặt người khác, coi mình là nạn nhân của mọi người và mọi thứ không? Hay tôi chào đón sức mạnh sáng tạo hài hòa của Chúa Thánh Thần, “ân sủng hiệp nhất” mà Người đã thổi vào thế giới, và ơn tha thứ của Người vốn mang lại bình an? Sự tha thứ tạo không gian cho Chúa Thánh Thần. Và đến lượt tôi, tôi có tha thứ, thúc đẩy hòa giải và tạo ra sự hiệp thông không hay hay tôi luôn soi mói, chỉ nhìn thấy những khó khăn để ngồi lê đôi mách, để chia rẽ, để phá hoại? Khi thế giới bị chia rẽ, khi Giáo hội trở nên phân cực, khi cõi lòng bị chia rẽ, chúng ta đừng lãng phí thời gian chỉ trích người khác và tức giận với chính mình, nhưng chúng ta hãy nài xin Chúa Thánh Thần. Người có khả năng giải quyết những điều này.

Lạy Chúa Thánh Thần, Thần Khí của Chúa Giêsu và của Chúa Cha, nguồn hài hòa vô tận, chúng con phó thác thế giới cho Ngài, chúng con xin dâng hiến Giáo Hội và trái tim của chúng con cho Ngài. Xin hãy đến, hỡi Thần khí Sáng tạo, sự hòa hợp của nhân loại, xin hãy canh tân bộ mặt trái đất. Xin hãy đến hỡi Đấng là “Ân huệ của mọi ân huệ”, hòa hợp của Giáo hội, xin cho chúng con được hiệp nhất trong Ngài. Xin hãy đến hỡi Thần Khí của ơn tha thứ, sự hài hòa của trái tim, xin biến đổi chúng con theo ý Chúa, qua trung gian Mẹ Maria.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (31/5/2020) - Chúa Thánh Thần là Đấng mang đến sự dồi dào

Thánh Tông đồ Phaolô viết cho các tín hữu Côrintô: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí” (1 Cr 12:4). Và thánh nhân tiếp tục: “Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người” (cc. 5-6). Sự đa dạng và hiệp nhất: Thánh Phaolô kết hợp hai từ ngữ dường như đối chọi nhau. Ngài muốn nói với chúng ta rằng Chúa Thánh Thần là Đấng mang đến sự dồi dào; và Giáo hội được sinh ra theo cách như vậy: tất cả chúng ta đều khác biệt, nhưng được hợp nhất bởi cùng một Chúa Thánh Thần.

Chúng ta hãy nhìn lại thời kỳ ban đầu của Giáo hội, vào ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống. Chúng ta hãy nhìn đến các Tông đồ: một số trong các ngài là ngư dân, những con người đơn sơ quen với cách sống bằng công việc chân tay, nhưng cũng có những người khác, chẳng hạn Mátthêu là một người thu thuế có học thức. Các ngài đều xuất thân từ những nền tảng và bối cảnh xã hội khác nhau, và các ngài mang các tên Hêbrơ và Hy lạp. Nói về tính cách thì một số trong các ngài có tính điềm đạm nhưng số khác thì sôi nổi; tất cả các ngài đều có suy nghĩ và sự nhạy cảm khác nhau. Tất cả các ngài đều khác nhau. Chúa Giêsu không thay đổi các ngài; Người đã không biến các ông trở thành một bộ những mẫu rập khuôn. Không. Người vẫn để lại những khác biệt của các ngài và bây giờ Người hợp nhất họ bằng cách xức dầu cho các ông với Chúa Thánh Thần. Bằng việc xức dầu sinh ra sự hiệp nhất của các ngài – hiệp nhất trong sự đa dạng. Trong ngày Lễ Ngũ tuần, các Tông đồ hiểu được sức mạnh hợp nhất của Thần Khí. Các ngài nhìn thấy điều đó với chính cặp mắt của mình khi mọi người, mặc dù nói các thứ tiếng khác nhau, đều đến với nhau như một dân tộc: dân tộc của Chúa, được định hình bởi Thần Khí là Đấng đan dệt hiệp nhất từ sự đa dạng và tặng ban sự hòa hợp vì trong Thần Khí là có sự hòa hợp. Chính Người là sự hòa hợp.

Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào bản thân mình, Giáo hội hôm nay. Chúng ta có thể tự hỏi: “Điều gì làm hiệp nhất chúng ta, nền tảng sự hiệp nhất của chúng ta là gì?” Chúng ta cũng có những khác biệt của mình, chẳng hạn: khác biệt về ý kiến, về lựa chọn, về sự nhạy cảm. Nhưng cám dỗ đó là luôn luôn muốn bảo vệ ý kiến riêng của mình bằng mọi giá, tin rằng đó là những ý tốt đẹp cho mọi người, và chỉ đồng ý với những ai suy nghĩ như chúng ta. Đây là một cám dỗ rất xấu mang đến sự chia rẽ. Đó là một sự tin tưởng được tạo ra trong hình ảnh riêng của chúng ta; nó không phải là điều Thần Khí muốn. Chúng ta có thể cho rằng điều hiệp nhất chúng ta chính là niềm tin và đạo đức của chúng ta. Nhưng còn nhiều hơn thế: nguyên tắc hiệp nhất của chúng ta là Chúa Thánh Thần. Người nhắc nhở chúng ta rằng trên hết chúng ta là những đứa con được yêu thương của Thiên Chúa; tất cả đều bình đẳng, về khía cạnh này, và tất cả đều khác biệt. Thần Khí đến với chúng ta trong những khác biệt và khó khăn của chúng ta, để nói với chúng ta rằng chúng ta có một Chúa – Chúa Giêsu – và có một Cha và vì lý do này chúng ta là anh chị em của nhau! Chúng ta hãy bắt đầu trở lại từ đây; chúng ta hãy nhìn đến Giáo hội bằng đôi mắt của Thần Khí và không theo cách của thế gian; Thần Khí nhìn chúng ta như là những người con trai và con gái của Chúa Cha và là anh chị em của Chúa Giêsu. Thế gian nhìn thấy những người bảo thủ và cấp tiến; Thần Khí nhìn thấy con cái của Chúa. Con mắt thế gian trông thấy những cơ cấu phải được làm hiệu quả hơn; con mắt tâm linh trông thấy những người anh chị em đang kêu xin lòng thương xót. Thần Khí yêu thương chúng ta và biết rõ vị trí của mọi người trong chương trình vĩ đại của mọi việc: với Người, chúng ta không phải là những mẩu hoa giấy bị gió thổi cuốn đi, nhưng chúng ta là những mảnh ghép không thể thiếu được trong bức tranh ghép toàn cảnh của Người.

Nếu chúng ta quay trở lại ngày Lễ Ngũ tuần, chúng ta khám phá ra rằng nhiệm vụ đầu tiên của Hội thánh là rao giảng phúc âm. Nhưng chúng ta cũng nhìn thấy rằng các Tông đồ chẳng vạch ra một chiến lược nào; khi các ngài khóa kín cửa ở đó, trong Phòng Tiệc Ly, các ngài chẳng hoạch định chiến lược, không, họ chẳng viết dự thảo kế hoạch mục vụ nào cả. Có thể các ngài đã phải chia người ra thành các nhóm theo gốc gác, trước hết trao đổi với những người ở gần rồi sau đó mới tới những người ở xa, theo kiểu đúng trật tự … Đáng lẽ các ngài cũng đã phải đợi thêm một thời gian trước khi bắt đầu việc rao giảng để hiểu được những lời giáo huấn của Chúa Giêsu sâu sắc hơn, cũng là để tránh những nguy hiểm … Không. Thần Khí không muốn sự ghi nhớ về Thầy chỉ được gieo trồng trong các nhóm nhỏ khóa kín cửa trong phòng Tiệc Ly là nơi dễ dàng trở thành “nơi riêng tư”. Đây là một căn bệnh kinh khủng cũng có thể lây nhiễm vào Giáo hội: biến Giáo hội thành một nơi riêng tư thay vì là một cộng đồng, một gia đình hoặc là một người Mẹ. Chính Thần Khí mở ra những cánh cửa và thúc đẩy chúng ta vượt xa hơn những gì đã được nói và làm, vượt xa hơn những ranh giới của một niềm tin rụt rè và cảnh giác đề phòng. Trong thế giới, nếu không có tổ chức chặt chẽ và một chiến lược rõ ràng, mọi sự sẽ tan rã. Tuy nhiên trong Giáo hội, Thần Khí bảo đảm sự hiệp nhất cho những người loan truyền thông điệp. Các Tông đồ lên đường: không được chuẩn bị, nhưng đưa mình vào tuyến đầu. Một điều khiến các ngài tiến bước: khát khao trao tặng những gì họ đã được đón nhận. Phần mở đầu của Thư thứ nhất của Thánh Gioan vô cùng đẹp: “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa” (cf. 1:3).

Đến đây chúng ta hiểu được mầu nhiệm của sự hiệp nhất là gì, mầu nhiệm của Thần Khí. Mầu nhiệm hiệp nhất trong Giáo hội, mầu nhiệm Thần Khí là một ân sủng. Vì chính Thần Khí là ân sủng: Người sống bằng cách trao ban bản thân và bằng cách này Người giữ chúng ta hiệp nhất với nhau, làm cho chúng ta trở thành những người chia sẻ trong cùng ân sủng. Điều quan trọng là phải tin rằng Thiên Chúa là ân sủng, rằng Người hoạt động không bằng cách lấy đi, nhưng bằng cách cho đi. Tại sao điều này lại quan trọng? Vì con đường trở thành người tín hữu của chúng ta tùy thuộc vào cách chúng ta hiểu về Thiên Chúa. Nếu chúng ta mang dấu ấn trong tâm trí về một Thiên Chúa lấy đi và áp đặt, thì chúng ta cũng sẽ có ý muốn lấy đi và áp đặt: chiếm giữ những không gian, đòi hỏi được công nhận, tìm kiếm quyền lực. Nhưng nếu chúng ta ghi nhớ trong lòng một Thiên Chúa là nguồn ân sủng, thì mọi sự thay đổi. Nếu chúng ta nhận biết rằng tất cả những gì của chúng ta đều là ân sủng của Người, tự do và bất xứng, thì rồi chúng ta cũng sẽ muốn biến cuộc sống mình thành một món quà. Bằng cách yêu thương khiêm nhường, phục vụ một cách tự do và vui vẻ, chúng ta sẽ trao cho thế giới hình ảnh thật của Thiên Chúa. Thần Khí, sự ghi nhớ sống động của Giáo hội, nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta được sinh ra từ ân sủng và chúng ta phát triển bằng sự cho đi: không bằng cách kìm giữ lại nhưng bằng cách cho đi bản thân.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy nhìn vào lòng mình và tự hỏi điều gì cản trở chúng ta không cho đi bản thân. Theo một cách nói, có ba kẻ thù chính của ân sủng luôn rình rập ở cửa ngõ tâm hồn chúng ta: tính tự kỷ ái mộ, cho mình là nạn nhân và thái độ bi quan. Tính tự kỷ ái mộ khiến chúng ta thần tượng hóa bản thân, chỉ quan tâm đến những gì tốt đẹp cho chúng ta. Người tự kỷ ái mộ suy nghĩ: “Đời sống là tốt đẹp nếu tôi kiếm được lợi ích từ nó.” Vì thế họ dẫn đến kết luận: “Tại sao tôi lại phải trao tặng bản thân cho người khác?” Trong thời gian đại dịch này, tính tự kỷ ái mộ đã cho thấy quá sai: khuynh hướng chỉ nghĩ đến nhu cầu của bản thân, thơ ơ trước nhu cầu của người khác, và không chấp nhận những yếu đuối và sai lầm của chúng ta. Nhưng với kẻ thù thứ hai, tự cho mình là nạn nhân, cũng nguy hiểm không kém. Những nạn nhân luôn kêu ca về người anh em của họ mọi ngày: “Chẳng ai hiểu tôi, chẳng ai giúp tôi, chẳng ai yêu tôi, mọi người chẳng ai để ý đến tôi!” Chúng ta đã nghe không biết bao nhiêu lần những lời phàn nàn như vậy! Tâm hồn của người nạn nhân khép chặt, vì người đó hỏi rằng: “Tại sao chẳng ai quan tâm đến tôi?” Trong cuộc khủng hoảng, chúng ta đang hiểu được tính cách xem mình là nạn nhân xấu biết bao! Cho rằng không có người nào hiểu chúng ta và trải qua những gì chúng ta đã từng trải. Đây là tính xem mình là nạn nhân. Cuối cùng là sự bi quan. Ở đây lại là lời than phiền bất tận: “Chẳng có gì tốt đẹp cả, xã hội, chính trị, Giáo hội …”. Người bi quan tức giận với cả thế giới, nhưng lại ngồi im mà chẳng làm gì, suy nghĩ rằng: “Cho đi nào có tốt đẹp gì? Chỉ là vô ích”. Ngay thời điểm này, với nỗ lực thật lớn để khởi đầu trở lại, thì sự bi quan lại tàn phá lớn như thế nào, khuynh hướng nhìn mọi sự dưới ánh sáng xấu nhất, và cứ lặp đi lặp lại rằng chẳng có gì sẽ quay trở lại như trước đây! Khi một người suy nghĩ theo hướng này thì một điều chắc chắn sẽ không quay lại đó là niềm hy vọng. Trong ba thần này – thần tượng tự kỷ ái mộ chiếc gương soi, thần gương; thần phàn nàn: “Tôi chỉ cảm thấy là người khi tôi phàn nàn”; và thần yếm thế: “Mọi sự đều đen tối, tương lai thì ảm đạm” – chúng ta có kinh nghiệm về một sự đói khát hy vọng và chúng ta cần biết trân quý món quà của sự sống, món quà là chính mỗi người chúng ta. Chúng ta cần Chúa Thánh Thần, ân sủng của Chúa là Đấng chữa lành chúng ta khỏi tính tự kỷ ái mộ, khỏi tính xem mình là nạn nhân, và chủ nghĩa bi quan. Người chữa lành chúng ta khỏi cái gương soi, khỏi những than phiền, và bóng tối.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần, sự ghi nhớ của Thiên Chúa, làm hồi sinh trong chúng ta sự ghi nhớ về ân sủng đã được đón nhận. Giải thoát chúng ta khỏi bệnh tê liệt của tính ích kỷ, và đánh thức trong chúng ta khao khát phục vụ, khao khát làm điều lành. Thậm chí còn tồi tệ hơn cuộc khủng hoảng này đó là thảm kịch của sự khép chặt lòng mình. Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến: Người là sự hòa hợp; hãy làm cho chúng con trở thành người xây dựng tình hiệp nhất. Người luôn trao ban chính Người; xin ban cho chúng con lòng can đảm thoát ra khỏi bản ngã, để yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau, để trở nên một gia đình. Amen.

Nguồn: daminhtamhiep.net (01.06.2020)

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống Năm A (31/5/2020) - Chúa Giêsu thiết lập Giáo hội bằng sự tha thứ

Chào anh chị em thân mến,

Hôm nay chúng ta cử hành lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, tưởng nhớ sự tuôn tràn của Chúa Thánh Thần xuống trên Cộng đoàn Kitô tiên khởi. Tin Mừng hôm nay (Ga 20, 19-23) đưa chúng ta trở lại buổi chiều Phục sinh và tỏ cho chúng ta thấy Chúa Giêsu sống lại hiện ra với các môn đệ trong lúc các ông đang tụ họp trong một căn phòng cửa đóng kín vì sợ người Do Thái. Chúa Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói ‘Bình an cho anh em!’ (c.19). Những lời loan báo đầu tiên của Đấng Phục Sinh ‘Bình an cho anh em’ không chỉ là một lời chào đơn giản nhưng biểu lộ sự tha thứ vì các môn đệ đã từ bỏ Chúa trong cuộc Khổ Nạn. Đây là những lời hòa giải và tha thứ. Và khi chúng ta chúc bình an cho người khác, chúng ta cũng đang ban ơn tha thứ và cũng xin được tha thứ. Chúa Giêsu trao ban chính bình an của Người cho các môn đệ đang sợ hãi, cảm thấy khó tin về những gì đã thấy về ngôi mộ trống, về những lời của bà Maria Mađalêna và của những phụ nữ khác. Chúa Giêsu tha thứ; Người luôn tha thứ và mang lại bình an cho các môn đệ của Người. Đừng quên: Chúa Giêsu không bao giờ mệt mỏi tha thứ. Chính chúng ta là những người mệt mỏi khi cầu xin sự tha thứ.

Chúa Giêsu thiết lập Giáo hội bằng sự tha thứ và tập hợp các môn đệ xung quanh Ngài. Đó là một cộng đoàn được hòa giải và sẵn sàng cho sứ vụ. Cuộc gặp gỡ với Chúa Phục Sinh đã làm đảo lộn cuộc sống các Tông đồ và biến đổi các ông trở thành những chứng nhân can đảm. Thực tế, Chúa nói ngay lập tức sau đó: ‘Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em’ (c.21). Những lời này giúp chúng ta hiểu rằng các Tông đồ được sai đi mở rộng sứ vụ mà Chúa Cha đã giao phó cho Chúa Giêsu. “Thầy sai anh em”: Giờ đây không phải là lúc để đóng kín cõi lòng, cũng không phải là lúc hối tiếc “những tháng ngày đẹp” đã qua với Thầy. Niềm vui vĩ đại Phục sinh là một niềm vui không giữ cho riêng mình nhưng mở ra với mọi người. Trong các Chúa nhật Phục sinh, chúng ta đã nghe tường thuật bài Tin Mừng của ngày hôm nay, tiếp theo là cuộc gặp gỡ của Đấng Phục Sinh với hai môn đệ Emmaus, rồi Mục tử Nhân lành, các bài diễn văn tạm biệt và lời hứa ban Thánh Thần: Tất cả nhằm củng cố đức tin cho các môn đệ và cho chúng ta trong sứ vụ.

Chính vì sự sống động trong công cuộc loan báo Tin Mừng, Chúa Giêsu đã ban Thánh Thần cho các Tông đồ: Người thổi hơi vào các ông và bảo: ‘Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần’ (c.22). Chúa Thánh Thần là ngọn lửa đốt cháy tội lỗi và tạo ra những con người mới. Người là ngọn lửa tình yêu mà nhờ đó các môn đệ có thể ‘đốt cháy’ thế giới, tình yêu dịu dàng đó dành cho những người bé mọn, người nghèo, người bị loại trừ… Trong Bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức chúng ta đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần cùng với các ơn của Người: Ơn Khôn Ngoan, Ơn Hiểu Biết, Ơn Biết Lo Liệu, Ơn Sức Mạnh, Ơn Thông Minh, Ơn Đạo Đức, Ơn Kính Sợ Thiên Chúa. Ơn cuối cùng - Ơn Kính Sợ - này hoàn toàn trái ngược với sự sợ hãi đã làm cho các môn đệ tê liệt trước kia. Đây là tình yêu dành cho Thiên Chúa, tin chắc vào lòng thương xót và sự tốt lành của Thiên Chúa, là niềm tin tưởng phó thác đi theo sự chỉ dẫn của Chúa, tin vào sự hiện diện và nâng đỡ của Chúa.

Lễ Chúa Thánh Thần làm mới lại trong chúng ta, ý thức sự hiện diện sống động của Thánh Thần. Thánh Thần ban cho chúng ta can đảm để ra khỏi những bức tường bảo vệ của những căn phòng đóng kín, không ở yên trong một cuộc sống yên tĩnh hoặc giam mình trong những thói quen khô cằn.

Bây giờ chúng ta hãy nghĩ đến Mẹ Maria: khi Chúa Thánh Thần đến, Mẹ đã ở đó, với các Tông đồ, Mẹ là một nhân vật chính của Cộng đoàn đầu tiên đã trải qua những điều kỳ diệu của Lễ Hiện Xuống, và chúng ta hãy cầu xin Mẹ ban cho Giáo hội tinh thần truyền giáo hăng say.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (04/6/2017) - Chúa Thánh Thần là Đấng thực hiện những điều mới mẻ

Anh chị em thân mến!

Hôm nay sẽ kết thúc mùa Phục Sinh, tức năm mươi ngày kể từ biến cố Phục Sinh của Chúa Giê-su tới ngày Đại Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, mà những ngày ấy được đánh dấu một cách đặc biệt thông qua sự hiện diện của Chúa Thánh Thần. Ngài hoàn toàn là ân sủng của sự phục sinh. Ngài là Thần Khí sáng tạo, Đấng luôn luôn thực hiện những điều mới mẻ.

Có hai điều mới mẻ được giới thiệu cho chúng ta trong các Bài Đọc hôm nay: trong Bài Đọc I, Chúa Thánh Thần đã biến các môn đệ thành một dân mới; trong bài Tin Mừng, Ngài tạo nên một con tim mới trong các môn đệ.

Một dân mớiVào Ngày Lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần đã từ trời hiện xuống, trong hình tượng “những chiếc lưỡi giống như lưỡi lửa, tản ra, đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác nhau” (Cv 2,3-4). Lời Chúa đã mô tả sự bao trùm Chúa Thánh Thần, mà trước tiên, sự bao trùm ấy đến trên từng cá nhân, và sau đó đặt tất cả vào trong sự hiệp thông với nhau. Ngài ban cho mỗi người một ơn, và Ngài tập trung tất cả vào trong sự hiệp nhất. Nói cách khác, Chúa Thánh Thần sáng tạo nên sự khác biệt và sự hiệp nhất, và bằng cách đó, Ngài nhào nặn nên một dân mới, tức dân đa dạng và hiệp nhất: Giáo hội phổ quát. Trước tiên, Ngài tạo nên sự khác biệt một cách đầy sáng tạo và không thể đoán trước. Tùy vào mỗi thời đại khác nhau mà Ngài làm cho những đặc sủng mới và đa dạng được đơm bông kết trái. Sau đó, cũng chính Ngài sẽ hiện thực hóa sự hiệp nhất: Ngài liên kết, quy tụ và tái khôi phục sự hòa điệu: “Với sự hiện diện có khả năng đem đến sự hiệp nhất của Ngài, Ngài nối kết những tinh thần cô độc và riêng rẽ” (Thánh Syrilô thành Alexandria, chú giải Tin Mừng theo Thánh Gio-an, XI, 11), để có sự hiệp nhất thật sự, đó là sự hiệp nhất thuộc về Thiên Chúa, nó không phải là sự đơn điệu, nhưng là sự hiệp nhất trong sự khác biệt.

Và để thực hiện điều ấy, việc ngăn ngừa hai cơn cám dỗ mà chúng thường xuyên tái xuất hiện, đó là điều rất tốt. Cơn cám dỗ thứ nhất đó là cơn cám dỗ xúi người ta tìm kiếm sự khác biệt mà không hề có sự hiệp nhất. Điều này sẽ diễn ra khi người ta muốn phân biệt nhau, khi những phe nhóm và những phân hóa phát sinh, khi người ta cứ khăng khăng với những địa vị độc quyền, trong một cách thức nào đó, người ta đã tự coi mình là tốt nhất, hay coi mình là những người luôn luôn có quyền. Những kẻ đó được gọi là những kẻ bảo vệ chân lý. Và rồi người ta sẽ lựa chọn theo từng thành phần chứ không chọn tất cả, để thuộc về nhóm này hay nhóm kia, trước khi thuộc về Giáo hội; người ta sẽ trở thành “những đối tượng đảng” thay vì trở thành những người anh chị em trong một Chúa Thánh Thần; sẽ trở thành các Ki-tô hữu “thuộc cánh hữu hay cánh tả” thay vì thuộc về Chúa Giê-su; sẽ trở thành những người bảo vệ đầy kiên định của quá khứ, hay trở thành những chiến sĩ tiên phong của tương lai hơn là trở nên những người con trai và con gái đầy khiêm nhượng cũng như đầy tâm tình biết ơn của Giáo hội. Như thế sẽ có rất nhiều sự đa dạng mà không có sự hiệp nhất. Mặt khác, cơn cám dỗ đi ngược lại điều đó chính là việc tìm kiếm sự hiệp nhất nhưng không có sự khác biệt. Và bằng cách đó, sự hiệp nhất sẽ trở thành một sự đơn điệu, một nghĩa vụ phải biến tất cả thành một và ngang nhau, và luôn luôn phải suy nghĩ trong cùng một cách thức. Do đó, sự hiệp nhất sẽ kết thúc ở chỗ trở nên thống nhất và không còn có sự tự do nữa. Nhưng, như Thánh Phao-lô nói: “Ở đâu có Thần Khí Thiên Chúa, ở đó sẽ có sự tự do” (2Cor 3,17).

Như vậy, việc dâng lời cầu nguyện của chúng ta lên cùng Chúa Chúa Thánh Thần có nghĩa là, cầu xin cho được ơn đón nhận sự hiệp nhất của Ngài, đạt tới được một viễn tượng mà nó bao hàm cũng như yêu mến Giáo hội của Ngài, Giáo hội của chúng ta, vượt lên trên những ham thích cá nhân. Chúng ta hãy cầu xin cho được ơn biết chăm lo cho sự hiệp nhất giữa chúng ta với nhau, loại bỏ những câu chuyện phiếm mà chúng rắc gieo cỏ dại và sự ghen tị đầy độc hại; vì việc trở nên những người nam và những người nữ của Giáo hội có nghĩa là, trở nên những người nam và những người nữ của sự hiệp thông; nó cũng có nghĩa là, cầu xin cho mình có được một con tim có khả năng cảm nhận được rằng, Giáo hội chính là Mẹ và là nhà của chúng ta: ngôi nhà gọi mời và rộng mở, nơi người ta có thể chia sẻ với nhau niềm vui đa dạng của Chúa Thánh Thần.

Và chúng ta đến với điều mới mẻ thứ hai: một con tim mới. Khi hiện ra lần đầu tiên với các môn đệ của Ngài, Chúa Giê-su Phục Sinh đã nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần! Anh em tha tội cho ai thì người đó sẽ được tha” (Ga 20,22). Chúa Giê-su đã không kết án các môn đệ của Ngài vì họ đã bỏ rơi Ngài cũng như đã chối bỏ Ngài trong cuộc khổ hình của Ngài, Nhưng Ngài đã ban cho họ Thần Khí thứ tha. Thần Khí là ân sủng đầu tiên của Đấng Phục Sinh, và được ban một cách đặc biệt để tha thứ tội lỗi. Ở đây là sự bắt đầu của Giáo hội, ở đây là phương tiện hiệp thông, phương tiện này liên kết chúng ta lại với nhau, là xi-măng gắn kết những viên gạch và những viên đá của ngôi nhà: sự tha thứ. Vì sự tha thứ chính là ân sủng trong khả năng cao nhất, nên nó cũng là Tình Yêu lớn lao, mà bất chấp tất cả, Tình Yêu ấy luôn giữ cho được hiệp nhất, luôn ngăn cản sự tan vỡ, nhưng củng cố và làm cho thêm vững chắc. Sự tha thứ sẽ giải phóng con tim và cho phép tái bắt đầu: sự tha thứ ban tặng niềm hy vọng, không có sự tha thứ thì người ta sẽ không thể xây dựng Giáo hội.

Thần Khí tha thứ, Đấng điều trị tất cả trong sự hiệp nhất, sẽ thôi thúc chúng ta loại bỏ những con đường khác khỏi chúng ta: những con đường vội vàng hấp tấp của những kẻ chỉ biết kết án, những con đường không lối thoát của kẻ đóng sập mọi cánh cửa, những con đường một chiều của kẻ chỉ biết chỉ trích người khác. Trái lại, Thần Khí sẽ khuyến khích chúng ta bước đi trên con đường hai chiều của sự tha thứ vừa được lãnh nhận vừa được trao đi, thuộc về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, mà Lòng Thương Xót ấy sẽ quan tâm tới tha nhân trong Đức Ái, mà con đường Đức Ái chính là “tiêu chuẩn duy nhất để hành động hay để bỏ qua, để thay đổi hay để duy trì.” (Thánh Isac Stella, Bài Giảng 31). Chúng ta hãy cầu xin cho được ơn biết làm cho khuôn mặt của Mẹ Giáo hội chúng ta ngày càng trở nên tuyệt mỹ hơn, bằng cách là chúng ta hãy canh tân bản thân mình nhờ vào sự tha thứ, cũng như hãy cải thiện chính bản thân mình: chỉ có thế chúng ta mới có thể khuyên dạy những người khác trong Đức Ái.

Vì thế, chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần, Đấng là ngọn lửa Tình Yêu luôn luôn bừng cháy trong Giáo hội và trong chúng ta, ngay cả khi chúng ta thường che phủ ngọn lửa ấy bằng tro bụi phát sinh từ những lầm lỗi của chúng ta: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin Chúa hãy luôn ngự trị trong tâm hồn chúng con và trong con tim của Giáo hội; xin Chúa hãy mang Giáo hội tiến về phía trước, bằng cách là hãy tạo dáng cho Giáo hội trong sự đa dạng, xin Chúa hãy đến. Để sống, chúng con cần tới ơn Chúa giống như cần tới nước: Xin hãy tái xuống trên chúng con và dậy cho chúng con sự hiệp nhất, canh tân con tim chúng con cũng như dậy cho chúng con biết yêu thương như Chúa vẫn thương yêu chúng con, để tha thứ như Chúa vẫn thứ tha cho chúng con. Amen.”

Nguồn: daminhtamhiep.net

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (08/6/2014) - Cộng đoàn Giáo hội làm cho người ta kinh ngạc

Anh chị em thân mến,

Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống tưởng niệm việc Chúa Thánh Thần đổ tràn ơn thiêng trên các Tông Đồ tụ họp tại Nhà Tiệc Ly. Cũng như Lễ Phục Sinh là một biến cố xảy ra trong lễ của Do thái giáo và được viên mãn lạ lùng, sách Tông đồ Công vụ mô tả các dấu hiệu và thành quả ngoại thường của việc đổ tràn ơn Thánh Thần: gió thổi mạnh và những hình lưỡi lửa; sợ hãi biến mất và nhường chỗ cho can đảm: ngôn ngữ không còn bị ràng buộc và tất cả mọi người đều hiểu lời loan báo. Nơi nào Thánh Thần của Thiên Chúa đến, thì tất cả được tái sinh và biến đổi. Biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống đánh dấu sự khai sinh Giáo Hội và Giáo Hội xuất hiện công khai; có hai nét làm cho chúng ta chú ý: đó là một Giáo Hội gây ngạc nhiên và làm lúng túng.

Một yếu tố cơ bản của lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống là sự ngạc nhiên. Chẳng ai mong đợi nơi các môn đệ điều gì nữa: sau khi Chúa Giêsu chịu chết, họ là một nhóm nhỏ chẳng có gì đáng kể, họ là những người mồ côi thất bại với Thầy họ. Trái lại xảy ra một biến cố bất ngờ làm cho mọi người ngỡ ngàng: dân chúng bối rối ngạc nhiên vì mỗi người nghe các môn đệ nói trong ngôn ngữ của họ, kể lại những kỳ công của Thiên Chúa (Xc Cv 2,6-7.11). Giáo hội sinh ra trong ngày Lễ Hiện Xuống là một cộng đoàn làm cho người ta kinh ngạc, vì với sức mạnh đến từ Thiên Chúa, Giáo Hội loan báo một sứ điệp mới - là sự phục sinh của Chúa Kitô - với một ngôn ngữ mới - ngôn ngữ đại đồng của tình thương. Các môn đệ được quyền năng từ trên cao, can đảm và thẳng thắn nói với tự do của Chúa Thánh Thần.

Vì thế Giáo Hội được kêu gọi luôn luôn là Giáo Hội: có khả năng gây ngạc nhiên khi loan báo cho mọi người rằng Chúa Giêsu Kitô đã chiến thắng sự chết, vòng tay của Thiên Chúa luôn mở rộng, Ngài luôn kiên nhẫn chờ đợi để chữa lành và tha thứ cho chúng ta. Chính vì sứ mạng này, Chúa Giêsu phục sinh đã ban Thần Trí của Ngài cho Giáo Hội.

Ở Jerusalem có những người muốn các môn đệ của Chúa Giêsu bị sợ hãi ngăn chặn và khép kín trong nhà để khỏi gây phiền toái. Trái lại, Chúa phục sinh thúc đẩy họ vào thế giới: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con” (Ga 20,21). Giáo Hội của lễ Hiện Xuống là một Giáo Hội không cam chịu là một cái gì vô thưởng vô phạt, hoặc là một thứ đồ trang trí. Trái lại đó là một Giáo Hội không do dự đi ra ngoài, gặp gỡ dân chúng, để loan báo sứ điệp đã được Chúa ủy thác cho họ, cho dù sứ điệp ấy làm phiền phức và làm cho các lương tâm bất an. Giáo Hội nảy sinh là duy nhất và phố quát, với căn tính rõ ràng, nhưng cởi mở, một Giáo Hội bao gồm cả thế giới, nhưng không nắm bắt thế giới, như vòng cung của Quảng trường này: hai vòng tay mở rộng để đón nhận, chứ không khép kín để giữ lại.

Chúng ta hãy hướng về Đức Trinh Nữ Maria, trong buổi sáng ngày lễ Ngũ Tuần trong Nhà Tiệc Ly, cùng với các môn đệ. Nơi Mẹ, sức mạnh của Chúa Thánh Thần đã thực hiện những việc cao cả (Lc 1,49). Xin Mẹ là Mẹ Đấng Cứu Chuộc và là Mẹ Giáo Hội, chuyển cầu để hồng ân của Chúa Thánh Thần tái đổ tràn trên Giáo Hội và thế giới.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

 

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (08/6/2014) - Chúa Thánh Thần dạy dỗ, nhắc nhớ và làm cho chúng ta nói

“Tất cả được tràn đầy Chúa Thánh Thần” (Cv 2,4).

Khi nói với các Tông Đồ trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu nói rằng sau khi rời khỏi thế giới này, Ngài sẽ gửi đến họ hồng ân của Chúa Cha, tức là Thánh Thần (Xc Ga 15,26). Lời hứa này được thể hiện mạnh mẽ trong ngày Lễ Ngũ Tuần, khi Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các môn đệ tụ họp tại Nhà Tiệc Ly. Sự đổ tràn Thánh Thần ấy, tuy là ngoại thường, nhưng không phải là xảy ra một lần duy nhất và giới hạn vào lúc ấy, nhưng là một biến cố đã và vẫn còn được tái diễn. Chúa Kitô vinh hiển ở bên hữu Chúa Cha tiếp tục thực hiện lời hứa, gửi đến Giáo Hội Thánh Thần ban sự sống, Người dạy dỗ, nhắc nhớ và làm cho chúng ta nói.

Chúa Thánh Thần dạy dỗ chúng ta, Người là Thầy nội tâm. Người hướng dẫn chúng ta trên đường ngay nẻo chính qua những hoàn cảnh của cuộc sống. Người chỉ đường cho chúng ta. Trong thời kỳ đầu của Giáo Hội, Kitô giáo được gọi là “con đường”, là “đạo” (Xc Cv 9,2) và chính Chúa Giêsu là Đường. Chúa Thánh Thần dạy chúng ta bước theo Chúa Giêsu, tiến bước theo vết của Ngài. Thánh Thần là thầy dậy cuộc sống hơn là thầy dậy đạo lý. Và thuộc về cuộc sống chắc chắn cũng có sự hiểu biết, kiến thức, nhưng trong một chân trời rộng lớn và hòa hợp hơn của đời sống Kitô.

Chúa Thánh Thần nhắc nhớ chúng ta, Người nhắc nhở chúng ta về tất cả những gì Chúa Giêsu đã nói. Đó là ký ức sinh động của Giáo Hội. Và trong khi nhắc nhở chúng ta, Người làm cho chúng ta hiểu những lời của Chúa Giêsu.

Việc nhắc nhớ này trong Thánh Thần và nhờ Thánh Thần không thu hẹp vào một sự kiện ký ức, và là một khía cạnh thiết yếu trong sự hiện diện của Chúa Kitô nơi chúng ta và trong Giáo Hội. Thánh Thần chân lý và tình thương nhắc nhớ chúng ta về tất cả những gì Chúa Kitô đã nói, làm cho chúng ta ngày càng đi sâu vào trọn vẹn ý nghĩa những lời của Chúa. Điều này đòi chúng ta phải đáp lại: hễ chúng ta càng quảng đại đáp lại, thì lời Chúa Giêsu càng trở thành sự sống trong chúng ta, trở thành những thái độ, chọn lựa, cử chỉ, chứng tá. Nói tóm lại, Chúa Thánh Thần nhắc nhớ chúng ta về giới răn yêu thương, và kêu gọi chúng ta hãy sống giới răn ấy.

Một Kitô hữu không có ký ức thì không phải là một Kitô hữu chân chính: họ là một người nam nữ tù nhân của thời điểm hiện tại, không biết biến lịch sử của mình thành kho tàng, không biết đọc và sống lịch sử ấy như lịch sử cứu độ. Trái lại, với ơn phù trợ của Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể giải thích những soi sáng nội tâm và những biến cố của cuộc sống dưới ánh sáng lời Chúa Giêsu. Và như thế sự khôn ngoan của ký ức, sự khôn ngoan của con tim, sẽ tăng trưởng trong chúng ta và đó là một hồng ân của Thánh Thần. Xin Chúa Thánh Thần hồi sinh trong tất cả chúng ta ký ức Kitô giáo! Và ở đó, trong ngày hôm đó với các Tông đồ là Đức Maria – người Mẹ Ký ức của chúng ta – người ngay từ đầu đã suy niệm về tất cả những điều đó trong lòng. Đức María, Mẹ của chúng ta, đã ở đó. Xin Đức Mẹ giúp chúng ta trên con đường ký ức này.

Chúa Thánh Thần dạy dỗ chúng ta, nhắc nhớ cho chúng ta - và một điểm khác nữa, Người làm cho chúng ta nói với Thiên Chúa và với con người. Không có người tín hữu không thể nói, không có tâm hồn câm; không, không có chỗ cho việc này.

Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta nói với Thiên Chúa trong lời cầu nguyện. Cầu nguyện là một hồng ân chúng ta nhận được nhưng không; đó là cuộc đối thoại với Thiên Chúa trong Thánh Thần, là Đấng cầu nguyện trong chúng ta và để chúng ta ngỏ lời với Thiên Chúa, gọi Chúa là Cha, là Ba, là Abba (Xc Rm 8,15; Gl 4,4); và điều này không phải chỉ là “một kiểu nói”, nhưng là thực tại, chúng ta thực sự là con cái Thiên Chúa. Thực vậy, tất cả những người được Thánh Thần Thiên Chúa hướng dẫn, thì họ là con cái Thiên Chúa” (Rm 8,14).

Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta nói trong hành động của đức tin. Không có Chúa Thánh Thần, không ai trong chúng ta có thể nói: “Chúa Giêsu là Chúa” – chúng ta đã nghe điều này hôm nay. Chính Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta nói chuyện với mọi người trong cuộc đối thoại huynh đệ. Ngài giúp chúng ta nói với tha nhân, nhìn nhận họ là anh chị em; diễn tả với tinh thần thân hữu, dịu dàng, hiểu những lo âu và hy vọng, buồn sầu và vui mừng của tha nhân.

Nhưng Chúa Thánh Thần cũng làm cho chúng ta nói với con người như ngôn sứ, nghĩa là biến chúng ta thành những “máng” khiêm tốn và ngoan ngoãn chuyển Lời Chúa. Lời ngôn sứ được thực hiện trong sự thẳng thắn, để công khai chứng tỏ những mâu thuẫn và bất công nhưng luôn luôn với sự dịu dàng và ý hướng xây dựng. Được Thánh Thần tình thương thấu nhập, chúng ta có thể là dấu hiệu và là dụng cụ của Thiên Chúa, Đấng yêu thương, phục vụ và trao ban sự sống.

Nói tóm lại, Chúa Thánh Thần dạy chúng ta con đường, nhắc nhớ và giải thích cho chúng ta Lời Chúa Giêsu; Người làm cho chúng ta cầu nguyện và gọi Thiên Chúa là Cha, làm cho chúng ta nói với con người trong cuộc đối thoại huynh đệ và như ngôn sứ.

Ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, khi các môn đệ “được tràn đầy Thánh Thần”, Giáo Hội được chịu phép rửa, được sinh ra “để đi ra”, “khởi hành” để loan báo Tin Mừng cho mọi người. Chúa Giêsu ra lệnh cho các Tông Đồ: họ không được rời xa khỏi thành Jerusalem trước khi lãnh nhận từ trên cao Sức Mạnh của Chúa Thánh Thần (Xc Cv 1,4.8). Không có Chúa Thánh Thần thì không có sứ vụ truyền giáo, không có việc loan báo Tin Mừng. Vì thế cùng với Giáo Hội chúng ta hãy kêu cầu: Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến!

Nguồn: archivioradiovaticana.va

 

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (12/6/2011) - Lễ “rửa tội” của Giáo hội

Anh chị em thân mến,

Lễ Trọng Chúa Thánh Thần Hiện Xuống mà chúng ta cử hành hôm nay kết thúc mùa phụng vụ Phục Sinh. Thật vậy, mầu nhiệm vượt qua – cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô và việc Người lên trời – tìm thấy sự thành toàn của mình trong việc tuôn đổ mạnh mẽ Chúa Thánh Thần trên các Tông đồ đang quy tụ cùng với Đức Maria, Mẹ Chúa và các môn đệ khác. Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống như là lễ “rửa tội” của Giáo Hội trong Thánh Thần (Xc Cv 1,5). Như sách Tông đồ công vụ thuật lại, sáng ngày lẽ Ngũ Tuần, một gầm lớn như gió thổi mạnh tràn Nhà Tiệc Ly và những lưỡi như lửa xuống trên mỗi môn đệ (Xc Cv 2,2-3). Thánh Gregorio Cả đã bình luận rằng: “Hôm nay Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các môn đệ với âm thanh bất ngờ, và biến đổi tâm trí phàm nhân trong tình thương của Ngài, và trong khi những lưỡi lửa xuất hiện bên ngoài, thì bên trong, các tâm hồn nồng cháy, bởi vì khi đón nhận Thiên Chúa trong thị kiến lửa, họ được đốt cháy dịu dàng để yêu thương” (Hom. in Evang. XXX, 1: CCL 141, 256). Tiếng Chúa thần hóa ngôn ngữ phàm nhân của các Tông Đồ, các vị trở nên có khả năng công bố “đa âm” Lời duy nhất của Thiên Chúa. Hơi thở của Thánh Thần làm đầy vũ trụ, sinh ra đức tin, lôi kéo đến sự thật, tạo điều kiện cho sự hiệp nhất các dân tộc. “Nghe tiếng động ấy, dân chúng tụ tập lại và ngỡ ngàng vì mỗi người nghe các tông đồ nói trong ngôn ngữ của họ về những kỳ công của Thiên Chúa” (Cv 2,6.11).

Chân phước Antonio Rosmini giải thích rằng “trong ngày Ngũ Tuần của các tín hữu Kitô, Thiên Chúa công bố... luật bác ái của Ngài, viết nhờ Thánh Thần không phải trên những bia đá, nhưng trong tâm hồn của các Tông Đồ, và rồi qua các Tông Đồ thông truyền luật ấy cho toàn thể Giáo Hội” (Sách Giáo Lý được sắp xếp theo thứ tự ý tưởng... n.737, Torino 1863). Thánh Thần, “là Chúa và là Đấng ban sự sống” - như chúng ta đọc trong kinh Tin Kính,- liên kết với Chúa Cha nhờ Chúa Con và hoàn tất mạc khải Ba Ngôi Chí Thánh. Ngài đến từ Thiên Chúa như hơi thở từ miệng Chúa và có quyền năng thánh hóa, xóa bỏ chia rẽ, phá tan sự xáo trộn do tội lỗi. Ngài là Đấng thiêng liêng và không có thể xác, rộng ban các hồng ân thiêng liêng, nâng đỡ sinh vật, để chúng hoạt động phù hợp với điều thiện. Như Ánh sáng trí tuệ, Chúa Thánh Thần ban ý nghĩa cho kinh nguyện, ban sinh lực cho sứ mạng truyền giáo, làm cho con tim của những người nghe Tin Mừng được nồng cháy, gợi hứng cho nghệ thuật Kitô giáo và cung điệu phụng vụ.

Anh chị em thân mến,

Chúa Thánh Thần, Đấng tạo nên nơi chúng ta niềm tin trong lúc chúng ta chịu phép rửa, cũng giúp chúng ta sống như con cái Thiên Chúa, một cách ý thức và đồng thuận, theo hình ảnh Chúa Con duy nhất.

Quyền tha tội cũng là một ân huệ của Chúa Thánh Thần; thực vậy, khi hiện ra với các Tông Đồ vào chiều ngày Lễ Phục Sinh, Chúa Giêsu đã thổi hơi vào các ông và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha” (Ga 20,23). Chúng ta hãy phó thác Giáo Hội cho Đức Trinh Nữ Maria là Đền thờ Chúa Thánh Thần để, Giáo hội luôn sống bằng Chúa Giêsu Kitô, bằng Lời Chúa, các giới răn của Ngài, và dưới tác động trường kỳ của Thánh Thần, Giáo Hội loan báo cho mọi người rằng “Đức Giêsu là Chúa!” (1 Cr 12,30).

Nguồn: archivioradiovaticana.va

 

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (12/6/2011) - Chúa Thánh Thần làm cho Giáo hội sinh động

Anh chị em thân mến,

Hôm nay chúng ta cử đại lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Theo một nghĩa nào đó, tất cả các lễ trọng của phụng vụ đều là đại lễ, nhưng Lễ Hiện Xuống là một đại lễ một cách đặc biệt, vì đánh dấu, vào ngày thứ 50, sự hoàn tất biến cố Vượt Qua, sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu, với hồng ân Thần Trí của Đấng Phục Sinh. Trong những ngày qua, Giáo Hội đã chuẩn bị chúng ta mừng lễ Hiện Xuống qua kinh nguyện, qua sự liên tục sốt sắng kêu cầu Thiên Chúa để xin Ngài tái đổ tràn Thánh Thần trên chúng ta. Như thế, Giáo Hội tái cảm nghiệm điều đã xảy ra thời nguyên thủy, khi các Tông Đồ họp nhau trong Nhà Tiệc Ly ở Giêrusalem, “họ kiên trì và hòa hợp trong kinh nguyện, cùng với một vài phụ nữ và Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, và các anh em của Ngài” (Cv 1,14). Họ họp nhau trong sự khiêm tốn chờ đợi và tin tưởng nơi sự ứng nghiệm lời hứa của Chúa Cha mà Chúa Giêsu đã thông báo cho họ: “Chẳng bao lâu nữa, các con sẽ được chịu phép rửa trong Thánh Thần.. các con sẽ nhận được sức mạnh từ Thánh Thần, Đấng sẽ ngự xuống trên các con” (Cv 1,5.8).

Trong phụng vụ Lời Chúa Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Thánh Vịnh 104[103] mà chúng ta đã nghe trong phần Đáp ca, tương ứng với trình thuật trong Sách Công Vụ Tông Đồ về sự ra đời của Giáo Hội (x. Cv 2:1-11): một bài thánh vinh ca tụng của toàn thể thụ tạo để tôn vinh Thánh Thần Sáng Tạo, Đấng đã sáng tạo mọi vật bằng sự khôn ngoan: “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, Ngài quá ư vĩ đại! Lạy Chúa, thực nhiều thay công cuộc của Ngài! Ðịa cầu đầy dẫy loài thụ tạo của Ngài.… Nguyện vinh quang Chúa còn tới muôn đời, nguyện cho Chúa hân hoan vì công cuộc của Chúa”. Qua các đoạn sách thánh này Giáo Hội muốn nói với chúng ta điều này: Thánh Thần sáng tạo vạn vật, Thánh Thần mà Chúa Kitô phái xuống từ Chúa Cha trên cộng đoàn các môn đệ là duy nhất và cùng là một: sự sáng tạo và cứu chuộc thuộc về nhau và, xét cho cùng, họp thành mầu nhiệm yêu thương và cứu độ duy nhất của Chúa. Thánh Thần trước tiên là Thánh Thần Sáng Tạo, vì thế Lễ Hiện Xuống là lễ sáng tạo. Đối với chúng ta, thế giới là kết quả một hành vi yêu thương của Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng mọi sự và Ngài vui mừng vì “đó là điều tốt”, điều rất tốt đẹp (Xc St 1,1-31). Vì thế, Thiên Chúa không phải là Đấng hoàn toàn khác, Đấng không thể nêu danh và u tối. Thiên Chúa tự biểu lộ, Ngài có một khuôn mặt, Thiên Chúa là lý trí, Thiên Chúa là ý chí, Thiên Chúa là tình thương, Thiên Chúa là vẻ đẹp. Niềm tin nơi Thánh Thần Sáng Tạo và niềm tin nơi Thần Trí mà Chúa Kitô Phục Sinh ban cho các Tông Đồ và mỗi người chúng ta, là điều gắn liền với nhau, không thể tách rời.

Bài đọc 2 và Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy mối liên hệ này. Chúa Thánh Thần là Đấng làm cho chúng ta nhận ra Chúa nơi Đức Kitô và thúc đẩy chúng ta tuyên xưng đức tin của Giáo hội: “Chúa Giêsu là Chúa” (x. 1Cr 12,3b). “Chúa” là danh hiệu được gán cho Thiên Chúa trong Cựu Ước, một danh hiệu mà theo cách giải thích của Kinh thánh đã thay thế tên “không thể phát âm” của Ngài. Kinh Tin Kính của Giáo Hội không gì khác hơn là sự phát triển của điều mà chúng ta nói với lời khẳng định đơn giản này: “Chúa Giêsu là Chúa”. Liên quan đến việc tuyên xưng đức tin này, Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng điều đó không phải là vấn đề của lời nói, mà chính là hoạt động của Chúa Thánh Thần. Nếu chúng ta muốn ở trong Thần Khí, chúng ta phải trung thành với Tín Điều này. Bằng cách biến nó thành của mình, bằng cách chấp nhận nó như lời nói của mình, chúng ta có thể tiếp cận với sự thực hiện của Chúa Thánh Thần. Những từ “Chúa Giêsu là Chúa” có thể được giải thích theo hai nghĩa: Chúa Giêsu là Thiên Chúa, đồng thời: Thiên Chúa là Chúa Giêsu. Chúa Thánh Thần soi sáng sự hỗ tương này: Chúa Giêsu có bản tính Thiên Chúa và Thiên Chúa có khuôn mặt nơi con người của Chúa Giêsu. Thiên Chúa tỏ mình ra nơi Chúa Giêsu và qua đó cho chúng ta sự thật về chính mình. Hãy để bản chất sâu thẳm nhất của chúng ta được soi sáng bởi lời tuyên xưng này qua sự kiện Chúa Thánh Thần hiện xuống. Khi đọc Kinh Tin Kính, chúng ta đi vào mầu nhiệm của Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống đầu tiên: một sự biến đổi triệt để phát sinh từ sự náo động của tháp Babel, từ những tiếng kêu gào của mọi người: sự đa dạng trở thành một sự thống nhất nhiều mặt, sự hiểu biết phát triển từ sức mạnh thống nhất của Sự Thật. Trong Kinh Tin Kính - tín điều liên kết chúng ta từ mọi nơi trên trái đất và nhờ Chúa Thánh Thần, đảm bảo rằng chúng ta hiểu nhau ngay cả trong sự khác biệt về ngôn ngữ - cộng đồng mới của Giáo hội Chúa được hình thành nhờ đức tin, đức cậy và đức mến.

Bài Tin Mừng hôm nay cống hiến cho chúng ta một hình ảnh tuyệt vời để làm sáng tỏ quan hệ giữa Chúa Giêsu, Chúa Thánh Thần và Chúa Cha: Thánh Thần được trình bày như hơi thở của Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh (Xc Ga 20,22). Ở đây thánh sử Gioan lấy lại một hình ảnh trong trình thuật về sự sáng tạo, trong đó có kể rằng Thiên Chúa thổi một luồng sinh khí vào mũi của con người (Xc St 2,7). Hơi thở của Thiên Chúa là sự sống. Giờ đây, Chúa thổi vào trong linh hồn chúng ta một luồng sinh khí mới, là Thánh Thần, là yếu tính thâm sâu nhất của Ngài, và qua đó, Chúa đón nhận chúng ta vào trong gia đình của Thiên Chúa. Qua phép rửa tội và thêm sức, ơn ấy được ban cho chúng ta một cách đặc biệt và với bí tích Thánh Thể và Thống Hối, ơn ấy được liên tục lập lại: Chúa thổi vào linh hồn chúng ta một luồng sinh khí. Tất cả các bí tích, mỗi phép theo thể thức riêng, đều thông truyền cho con người sự sống thần linh, tạ ơn Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động trong các bí tích ấy.

Trong phụng vụ hôm nay, chúng ta còn nhận thấy một sự nối kết nữa. Chúa Thánh Thần là Đấng Sáng Tạo, đồng thời cũng là Thần Trí của Chúa Giêsu Kitô, nhưng theo thể thức: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là một Thiên Chúa duy nhất. Dưới ánh sáng bài đọc thứ I, chúng ta có thể nói thêm rằng Chúa Thánh Thần làm cho Giáo Hội sinh động. Giáo Hội không xuất phát từ ý chí loài người, từ suy tư, sự tài khéo và khả năng tổ chức của con người, vì nếu như thế, thì Giáo Hội đã bị tàn lụi từ lâu rồi, như vẫn xảy ra đối với mọi điều phàm nhân. Trái lại Giáo Hội là Thân Mình của Chúa Kitô, được Thánh Thần làm cho sinh động. Những hình ảnh như gió và lửa, được thánh Luca dùng để diễn tả sự hiện xuống của Chúa Thánh Thần (Xc Cv 2,2-3), gợi lại núi Sinai nơi Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân Israel và ban cho họ giao ước của Ngài; sách Xuất Hành kể lại: “núi Sinai đầy khói, vì Chúa ngự xuống trên đó trong lửa” (19,18). Thực vậy, dân Israel mừng ngày thứ 50 sau lễ Vượt Qua, sau khi tưởng niệm cuộc di tản khỏi Ai Cập, như là lễ Sinai, lễ Giao Ước. Khi thánh Luca nói về những lưỡi lửa để diễn tả Chúa Thánh Thần, Giao ước cũ ấy được nhắc nhớ, Giao ước được thiết lập trên căn bản Luật mà dân Israel đã nhận từ trên núi Sinai. Như thế, biến cố Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần hiện xuống, được trình bày như một biến cố Sinai mới, như hồng ân giao ước mới trong đó giao ước với Israel được nới rộng cho tất cả các dân tộc trên trái đất, trong đó tất cả các hàng rào của Luật cũ đều sụp đổ và xuất hiện con tim thánh thiện và bất biến, tức là tình yêu, mà chính Thánh Thần thông ban và phổ biến, là tình yêu bao trùm mọi sự. Đồng thời Luật được mở rộng, cởi mở, tuy trở nên đơn sơ hơn: đó là Giao Ước mới mà Thánh Thần “viết” trong con tim của những người tin nơi Chúa Kitô. Sự nới rộng Giao Ước cho mọi dân tộc trên trái đất được thánh Luca diễn tả qua sự liệt kê các dân tộc đáng kể thời ấy (Xc Cv 2,9-11). Qua sự kiện đó, Ngài nói với chúng một điều rất quan trọng: đó là Giáo Hội là Công Giáo ngay từ lúc đầu tiên, đặc tính hoàn vũ của Giáo Hội không phải là kết quả của hành động dần dần tháp nhập các cộng đoàn khác nhau. Thực vậy, ngay từ giây phút đầu tiên, Chúa Thánh Thần đã kiến tạo Giáo Hội như Hội Thánh của tất cả các dân tộc; Giáo Hội bao trùm toàn thể thế giới, vượt lên trên mọi biên cương chủng tộc, giai cấp, quốc gia; sau khi phá đổ mọi hàng rào, Giáo Hội liên kết con người trong việc tuyên xưng Thiên Chúa duy nhất và Ba Ngôi. Ngay từ đầu, Giáo Hội là duy nhất, Công Giáo, và tông truyền: đây chính là bản chất đích thực của Giáo Hội và phải được nhìn nhận như thế. Giáo Hội là thánh thiện không phải do khả năng của các phần tử, nhưng vì chính Thiên Chúa cùng với Thần Trí của Ngài, sáng tạo và luôn thánh hóa Giáo Hội.

Cuối cùng, bài Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta những lời đẹp đẽ này: “các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa” (Ga 20:20). Những lời này mang tính nhân văn sâu sắc. Người bạn đã mất thì nay lại hiện diện và những người trước đây quẫn trí thì nay lại vui mừng. Nhưng những lời này còn nói nhiều hơn thế. Vì Người Bạn đã mất không đến từ bất cứ đâu mà từ đêm đen của cái chết; và Người đã vượt qua cái chết! Người không chỉ là một người như bất cứ ai; mà còn thực sự là Người Bạn và đồng thời là Sự Thật ban sự sống cho con người; và điều Người ban tặng không chỉ là bất kỳ loại niềm vui nào mà chính là niềm vui, một món quà của Chúa Thánh Thần. Vâng, thật đẹp khi sống cuộc sống mà biết mình được yêu và chính Sự Thật yêu mình. Các môn đệ vui mừng khi thấy Chúa. Hôm nay, vào Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, những lời này cũng được nói với chúng ta, bởi vì trong đức tin, chúng ta có thể nhìn thấy Chúa Giêsu. Trong đức tin, Người đến giữa chúng ta và với chúng ta, Người cũng cho thấy tay và cạnh sườn của Người và chúng ta vui mừng. Vì thế chúng ta hãy cầu nguyện: Lạy Chúa, xin Chúa tỏ mình ra! Xin làm cho chúng con món quà là sự hiện diện của Chúa và chúng con sẽ có món quà đẹp nhất: niềm vui của Chúa. A-men!

Nguồn: archivioradiovaticana.va

 

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (11/5/2008) - Thanh tẩy trong Thánh Thần

Anh chị em thân mến

Hôm nay chúng ta mừng lễ Ngũ tuần, một lễ từ thời xưa mà người Do thái kỷ niệm Giao ước Thiên Chúa thiết lập với dân tộc trên núi Sinai (xc Xh 19). Lễ Ngũ tuần trở thành một lễ của Kitô giáo bởi vì nhớ đến một biến cố diễn ra 50 ngày sau lễ Vượt qua của Chúa Giêsu. Trong sách Tông đồ công vụ chúng ta đọc thấy rằng đang khi các môn đệ tụ họp với nhau để cầu nguyện trong nhà Tiệc Ly, thì Chúa Thánh Thấn ngự xuống trên họ với sức mạnh tựa như gió và lửa. Thế rồi họ bắt đầu loan báo bằng nhiều ngôn ngữ tin mừng Chúa Kitô sống lại (xc 2,1-4). Đây là cuộc “thanh tẩy trong Thánh Thần” mà ông Gioan Tẩy giả đã tiên báo: “Tôi rửa anh em trong nước, nhưng kẻ đến sau tôi, có uy thế hơn tôi, Người sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và trong lửa” (Mt 3,11), Thật thế, tất cả sứ mạng của Chúa Giêsu nhắm tới việc trao ban cho nhân loại Thần khí của Thiên Chúa, và rửa họ nhờ sự tái sinh. Điều này được thực hiện nhờ cuộc tôn vinh của Chúa Giêsu (xv Ga 7,39), nghĩa là nhờ cái chết và phục sinh của Người. Thần khí Chúa được trút xuống thế giới cách dồi dào, như một thác nước có khả năng thanh lọc các con tìm, dập tắt ngọn lửa của sự dữ, và thắp lên trong thế giới ngọn lửa của lòng mến Chúa.

Sách Tông đồ công vụ trình bày lễ Ngũ Tuần như là sự hoàn tất lời hứa ấy và như là tột đỉnh của sứ mạng của Chúa Giêsu. Sau khi sống lại, Chúa đã truyền cho các môn đệ hãy ở lại Giêrusalem, bởi vì, theo như lời Chúa nói: “các con sẽ được rửa trong Thánh Thần trong vài hôm nữa” (Cv 1,5), và Người còn thêm rằng “Các con sẽ lãnh nhận sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ làm chứng cho Thầy tại Giêrusalem, trong khắp miền Giuđê và Samaria, và cho đến cùng cõi điạ cầu” (Cv 1,8). Vi thế, lễ Ngũ Tuần là một cuộc thanh tẩy đặc biệt của Hội thánh, khởi đầu sứ mạng phổ thế, bắt đầu từ Giêrusalem, với lời giảng lạ lùng bằng các ngôn ngữ khác nhau của nhân loại. Trong phép rửa của Thánh Thần, có hai khía cạnh không thể tách rời nhau được: khía cạnh cá nhân và khía cạnh cộng đoàn, cái “tôi” của mỗi môn đệ và cái “chúng tôi” của Hội thánh. Chúa Thánh thần thánh hiến mỗi cá nhân, và đồng thời biến đổi nó trở nên chi thể sống động của Thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô, thông dự vào sứ mạng làm chứng cho tình yêu của Người. Điều này được thể hiện nhờ các bí tích khai tâm, Rửa tôi và Thêm sức. Trong sứ điệp cho ngày quốc tế bạn trẻ năm 2008, tôi đã đề nghị các bạn trẻ hãy khám phá sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời của mình, và tầm quan trọng của các bí tích ấy. Hôm nay tôi muốn nới rộng lời kêu mời đến tất cả mọi người.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy khám phá vẻ đẹp của việc được thanh tẩy trong Thánh Thần, chúng ta hãy ý thức về bí tích rửa tội và thêm sức, nguồn mạch của ân hiện sủng. Chúng ta hãy xin Mẹ Maria khẩn nài cho Hội thánh được hưởng một lễ Ngũ Tuần mới, mang lại cho hết mọi người, cách riêng là các bạn trẻ, niềm vui vì được sống và làm chứng cho Tin mừng.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

 

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm A (11/5/2008) - Sự đa dạng và sự hiệp nhất đan xen với nhau

Anh chị em thân mến,

Thánh Luca đặt trình thuật về biến cố Lễ Hiện Xuống mà chúng ta vừa nghe trong Bài đọc I vào chương thứ hai của sách Công vụ Tông đồ. Chương này được mở đầu bằng những lời: "Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi" (Cv 2,1). Những lời này quy chiếu về bối cảnh trước đó; trong đó, Thánh Luca đã mô tả một nhóm nhỏ các môn đệ đã kiên trì tụ họp tại Giêrusalem sau khi Chúa Giêsu lên Trời (x. Cv 1,12-14). Đây là một mô tả giàu chi tiết: nơi "họ đang ở," Nhà Tiệc ly, là một "căn phòng trên lầu"; mười một Tông đồ được liệt kê theo tên và ba người đầu tiên là Phêrô, Gioan và Giacôbê, những "cột trụ" của cộng đoàn; được nhắc đến cùng với các ngài là "các phụ nữ" và "Maria, Mẹ của Đức Giêsu", và "anh em của Người", vốn đã là một phần không thể tách rời của gia đình mới này, không còn dựa trên mối liên hệ huyết thống mà trên đức tin vào Chúa Kitô.

Tổng số người là "khoảng một trăm hai mươi người", một bội số của "Mười Hai" trong Tông đồ đoàn, gợi lên "Israel mới" này. Nhóm này cấu thành một "qāhāl" đích thực, một "hội đồng" theo mẫu mực của Giao uớc thứ nhất, cộng đoàn được triệu tập để lắng nghe tiếng Chúa và đi theo đường lối của Người. Sách Công vụ Tông đồ nhấn mạnh rằng "tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện" (Cv 1,14). Vì vậy, cầu nguyện, là hoạt động chính yếu của Giáo hội sơ khai qua đó Giáo hội đón nhận sự hiệp nhất từ Chúa và để mình được hướng dẫn bởi ý muốn của Người, như được thể hiện qua quyết định bắt thăm để bầu chọn người sẽ thay thế Giuđa (x. Cv 1,26).

Cộng đoàn này đã tụ họp tại cùng một nơi, Nhà Tiệc Ly, vào buổi sáng của Lễ Ngũ tuần của người Do Thái, lễ của Giao uớc tưởng niệm biến cố tại Sinai, khi Thiên Chúa, qua ông Môsê, đề nghị Israel trở thành sở hữu riêng của Người giữa muôn dân để là dấu chỉ sự thánh thiện của Người (x. Xh 19). Theo sách Xuất hành, giao ước cổ xưa đó được đi kèm bởi một biểu hiện quyền năng kinh hoàng của Chúa khi sách chép rằng: "Núi Sinai ngập khói, vì Đức Chúa ngự xuống trên núi trong đám lửa; khói bốc lên như khói từ lò lửa, và cả núi rung chuyển dữ dội" (Xh 19,18). Chúng ta thấy những yếu tố gió và lửa trong Lễ Hiện Xuống của Tân uớc, nhưng không pha lẫn nỗi sợ hãi. Lửa đặc biệt mang hình dạng những lưỡi ngọn lửa đậu xuống trên từng người trong các môn đệ, những người "đều được tràn đầy Thánh Thần" và qua hiệu quả của việc tuôn đổ này "bắt đầu nói các thứ tiếng khác" (Cv 2,4). Đây là một cuộc "rửa tội" bằng lửa thực sự và đúng nghĩa của cộng đoàn, một công trình tạo dựng mới. Trong Lễ Hiện Xuống, Giáo hội không được thành lập bởi ý muốn của con người mà bởi quyền năng của Thánh Thần Thiên Chúa. Và ngay lập tức ta thấy rõ Chúa Thánh Thần trao ban sự sống cho một cộng đoàn vừa là duy nhất vừa là phổ quát, do đó vượt qua lời nguyền của Babel (x. St 11,7-9). Thật vậy, chỉ có Chúa Thánh Thần mới tạo nên sự hiệp nhất trong tình yêu và trong sự đón nhận lẫn nhau của sự đa dạng, điều có thể giải phóng nhân loại khỏi cơn cám dỗ thường xuyên muốn chiếm đoạt quyền lực trần thế, tìm cách thống trị và đồng nhất hóa mọi sự.

"Societas Spiritus", xã hội của Thánh Thần, là điều mà Thánh Augustinô gọi Giáo hội trong một bài giảng của ngài (71, 19, 32: PL 38, 462). Tuy nhiên, trước ngài, Thánh Irênê đã phát biểu một chân lý mà tôi muốn nhắc lại ở đây: "Ở đâu có Giáo hội, ở đó có Thánh Thần của Thiên Chúa; ở đâu có Thánh Thần của Thiên Chúa, ở đó có Giáo hội và mọi ân sủng; và Thánh Thần là chân lý; tự tách mình khỏi Giáo hội là khước từ Thánh Thần", và như vậy "tự loại mình ra khỏi sự sống" (Adversus Haereses III, 24, 1). Bắt đầu từ biến cố Lễ Hiện Xuống, sự kết hợp giữa Thánh Thần của Chúa Kitô và Nhiệm Thể của Người, hay nói cách khác là Giáo hội, đã được biểu lộ trọn vẹn. Tôi muốn suy niệm về một khía cạnh đặc biệt về hoạt động của Chúa Thánh Thần, đó là cách thức mà trong đó sự đa dạng và sự hiệp nhất đan xen với nhau. Bài đọc II nói về điều này, đề cập đến sự hài hòa của các đặc sủng khác nhau trong sự hiệp thông của cùng một Thánh Thần. Nhưng ngay trong sách Công vụ Tông đồ, chúng ta đã nghe trình thuật về sự đan xen này được biểu lộ với sự rõ ràng phi thường. Trong biến cố Lễ Hiện Xuống, chúng ta thấy rõ rằng nhiều ngôn ngữ và các nền văn hóa khác nhau là thành phần của Giáo hội; trong đức tin chúng có thể được hiểu và làm phong phú lẫn nhau. Thánh Luca muốn truyền đạt một cách rõ ràng không mơ hồ một tư tưởng căn bản, đó là chính việc Giáo hội được khai sinh đã là "công giáo" hay phổ quát rồi. Ngay từ đầu Giáo hội đã nói bằng tất cả mọi ngôn ngữ, vì Tin mừng được trao phó cho Giáo hội được dành cho tất cả mọi dân tộc, theo ý muốn và mệnh lệnh của Chúa Kitô Phục Sinh (x. Mt 28,19). Giáo hội được khai sinh vào Lễ Hiện Xuống không phải trước tiên là một cộng đoàn đặc thù, Giáo hội Giêrusalem, mà là Giáo hội phổ quát, nói bằng ngôn ngữ của tất cả các dân tộc. Từ Giáo hội này, các cộng đoàn khác được sinh ra ở mọi nơi trên thế giới, những Giáo hội đặc thù đều và luôn là những hiện thực hóa của Giáo hội duy nhất của Chúa Kitô. Do đó, Giáo hội Công giáo không phải là một liên đoàn các Giáo hội mà là một thực tại duy nhất: Giáo hội hoàn vũ có tính ưu tiên về mặt bản thể học. Một cộng đoàn không mang tính công giáo theo nghĩa này thì không phải là một Giáo hội.

Về điều này, cần phải bổ sung thêm một khía cạnh khác: đó là tầm nhìn thần học của sách Công vụ Tông đồ về hành trình đến Roma của Giáo hội Giêrusalem. Trong số các dân tộc có mặt tại Giêrusalem vào Ngày Lễ Hiện Xuống, Thánh Luca cũng đề cập đến "những người từ Roma đến" (Cv 2,10). Lúc bấy giờ Roma vẫn còn xa xôi, "xa lạ" với Giáo hội mới sinh: đó là biểu tượng của thế giới ngoại giáo nói chung. Nhưng quyền năng của Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn bước chân của các chứng nhân "đến tận cùng trái đất" (Cv 1,8), kể cả đến tận Roma. Sách Công vụ Tông đồ kết thúc chính xác khi Thánh Phaolô, theo một kế hoạch quan phòng, đến thủ đô của Đế quốc và rao giảng Tin mừng tại đó (x. Cv 28,30-31). Như vậy hành trình của Lời Thiên Chúa bắt đầu từ Giêrusalem đã đến đích, vì Roma đại diện cho toàn bộ thế giới và do đó thể hiện tư tưởng của Thánh Luca về tính công giáo. Giáo hội phổ quát được thành lập, Giáo hội Công giáo, là sự mở rộng của Dân được tuyển chọn và làm cho lịch sử và sứ mạng của dân đó trở thành lịch sử và sứ mạng của mình.

Ở điểm này, và để kết thúc, Tin mừng Gioan mang đến một lời thật hài hòa với mầu nhiệm Giáo hội được Thánh Thần khai sinh. Lời đó đã hai lần vang lên từ môi miệng của Chúa Giêsu Phục Sinh khi Người hiện ra giữa các môn đệ trong Nhà Tiệc ly vào buổi tối ngày Phục sinh: Shalom - "Bình an cho anh em!" (Ga 20,19.21). Từ "shalom" không chỉ là một lời chào hỏi đơn thuần; nó còn nhiều hơn thế: đó là hồng ân bình an đã được hứa (x. Ga 14,27) và đã được Chúa Giêsu chuộc lại bằng giá máu của Người, đó là hoa trái của chiến thắng của Người trong trận chiến chống lại thần dữ. Vì vậy, đó là một bình an "không như thế gian ban tặng" mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban.

Trong ngày lễ của Chúa Thánh Thần và Giáo hội này, chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa vì Người đã ban cho dân của Người, được tuyển chọn và đào tạo giữa muôn dân, điều quý giá là bình an, là bình an của Người! Đồng thời, chúng ta hãy canh tân ý thức về trách nhiệm gắn liền với hồng ân này: trách nhiệm của Giáo hội để trở thành, theo bản chất, dấu chỉ và khí cụ bình an của Thiên Chúa cho tất cả mọi dân tộc. Tôi đã cố gắng chuyển tải sứ điệp này gần đây khi đến trụ sở của cơ quan Liên Hiệp Quốc để ngỏ lời với các đại diện của các dân tộc. Tuy nhiên, chúng ta không chỉ nghĩ đến những sự kiện "ở cấp cao nhất" này. Giáo hội thực thi sứ vụ phục vụ bình an của Chúa Kitô trước hết trong sự hiện diện và hoạt động bình thường giữa mọi người nam nữ, với việc rao giảng Tin mừng và những dấu chỉ tình yêu và lòng thương xót đi kèm với việc rao giảng đó (x. Mc 16,20).

Dĩ nhiên, trong số những dấu chỉ này, trước tiên cần phải nhấn mạnh đến Bí tích Hòa giải. Chúa Kitô Phục sinh đã thiết lập Bí tích này ngay vào lúc Người ban bình an và Thánh Thần của Người cho các môn đệ. Như chúng ta đã nghe trong đoạn Tin mừng, Chúa Giêsu thổi hơi trên các Tông đồ và nói: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" (Ga 20,22-23). Thật quan trọng và, đáng tiếc thay, thường không được hiểu đủ là hồng ân hòa giải đem lại sự bình an cho tâm hồn! Bình an của Chúa Kitô chỉ được lan rộng qua những tâm hồn được đổi mới của những con người đã được hòa giải, những người đã tự biến mình thành tôi tớ của công lý, sẵn sàng lan truyền bình an trong thế giới chỉ bằng sức mạnh của chân lý, không nhân nhượng với tư tưởng của thế gian, vì thế gian không thể ban bình an của Chúa Kitô: đây là cách thức Giáo hội có thể là men của sự hòa giải đến từ Thiên Chúa. Giáo hội chỉ có thể thực hiện sứ mạng này nếu Giáo hội vẫn vâng phục Chúa Thánh Thần và làm chứng cho Tin mừng, nếu Giáo hội vác Thánh Giá như Chúa Giêsu và cùng với Chúa Giêsu. Các thánh trong mọi thời đại làm chứng một cách chân thực về điều này!

Trong ánh sáng của lời sự sống này, anh chị em thân mến, xin cho lời cầu nguyện chúng ta đang dâng lên Thiên Chúa trong sự hiệp thông thiêng liêng với Đức Trinh Nữ Maria ngày càng trở nên sốt sắng và tha thiết hơn. Xin Đức Trinh Nữ lắng nghe, Mẹ của Giáo hội, xin Mẹ đạt được cho các cộng đoàn của chúng ta và cho tất cả các Kitô hữu một cuộc tuôn đổ mới của Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ. "Emitte Spiritum tuum et creabuntur, et renovabis faciem terrae — Xin Chúa gửi Thánh Thần Người đến, và họ sẽ được tái tạo, và Chúa sẽ canh tân mặt đất này". Amen.

WHĐ (11/5/2008)