Dậy men và tỏa sáng - Nét đồng dạng giữa linh đạo hiệp hành và trải nghiệm tâm linh của Thánh Têrêsa Avila

16/08/2026
89
Header

 

DẬY MEN VÀ TỎA SÁNG - NÉT ĐỒNG DẠNG GIỮA LINH ĐẠO HIỆP HÀNH VÀ TRẢI NGHIỆM TÂM LINH CỦA THÁNH TÊRÊSA AVILA

WHĐ (15/8/2026) - Từ Văn kiện Chung kết của Thượng Hội đồng về Hiệp hành và trải nghiệm tâm linh của Thánh Têrêsa Avila, tác giả gợi mở những nét tương đồng giữa linh đạo hiệp hành và linh đạo Cát Minh, đặc biệt qua lời mời gọi hoán cải, lắng nghe Chúa Thánh Thần, vượt khỏi sức riêng để phó thác và cùng nhau bước đi trong ân sủng.

LỜI MỞ

Một ghi chú nhỏ

Mạch văn xuyên suốt của 5 phần VC

1. CHÚNG TA LÀ CON THIÊN CHÚA

Từ một đoạn Kinh thánh đến một nẻo tâm linh

Con người bị bế tắc và Thiên Chúa khai thông

2. BÊN NHAU NHƯ CON CÁI CHÚA

3a. THIÊN CHÚA ĐỢI GÌ NƠI CON CÁI NGÀI

A. Lắng nghe Chúa Thánh Thần

B. Chuyển từ sức người sang ơn Chúa

C. Vượt khỏi chủ quan để đạt đến ý Chúa

D. Tiếng gọi vượt thoát

E. Bảng chỉ đường hy vọng

F. Để cho Chúa Thánh Thần dẫn dắt

G. Vượt tháp chủ quan

H. Trở ngại khiến ta dừng bước

l. Chọn bước theo Chúa Thánh Thần

3b. PHÂN ĐỊNH NHƯ CON CÁI CHÚA

3c. TIN CẬY MẾN – DẶM ĐƯỜNG RIÊNG CỦA CON CÁI CHÚA

Mức ở lại Thứ Tư (4M) giữa đời hoạt động: Bình an trong bổn phận

Mức ở lại Thứ Năm (5M) giữa đời hoạt động

Thuận phục hơn

4. CÁC MỤC TỬ TRÊN ĐƯỜNG TIN, CẬY, MẾN

Mức ở lại Thứ Sáu (6M)

hay Đêm đức tin giữa đời hoạt động

5. ĐÀO TẠO TINH THẦN TIN, CẬY, MẾN

A. Những giáo dân trưởng thành giữa lòng đời

B. Thực nghiệm

THAY LỜI KẾT: MỘT GIẢI PHÁP ĐƯỜNG DÀI

LỜI MỞ

Linh đạo hiệp hành hết sức quan trọng. Thoạt đầu, nhiều người nghĩ Văn kiện Chung kết (VC) của Thượng hội đồng (THĐ) về hiệp hành sẽ đem lại giải pháp hành chánh cho những khó khăn trong Giáo hội hiện nay. Thế nhưng ở số 46 nói về việc xây dựng lại sự tin tưởng cho Giáo hội, thậm chí THĐ còn không nhắc đến tên các loại lạm dụng. THĐ không kết án ai nhưng nhường bước cho lương tâm của những người trong cuộc, mời gọi mỗi người phát huy khả năng phân định, đặt vấn đề cách thẳng thắn và minh bạch, rồi lắng nghe, đón nhận và thực hành ý Chúa (VC phần III). Như thế, kết quả cuối cùng sẽ tùy nơi thái độ tâm linh của người trong cuộc, tùy nơi sự hoán cải của những người đang làm việc và tùy nơi sự đào tạo linh đạo hiệp hành cho thế hệ mới. Không có sẵn mì ăn liền.

Linh đạo hiệp hành là gì? Câu trả lời nằm ở VC các số 43-48. Đọc đi đọc lại, ta hiểu rằng linh đạo này được trình bày rải rác và xuyên suốt trong văn kiện.

Khi được phân công viết về “giới trẻ trong Giáo hội hiệp hành”, tôi nghĩ về một giới trẻ đang chờ được đào tạo, được tập quen suy nghĩ và ứng xử theo tinh thần hiệp hành. Trước hết, cần giúp giới trẻ thấy rõ cái hay, cái hứa hẹn đầy hấp dẫn của hiệp hành, mới có thể lôi cuốn họ nhập cuộc.

Hiệp hành nơi lịch sử nhân loại bắt đầu với câu chuyện hai người thấy mình là một xương một thịt nhưng chẳng mấy chốc họ đã đổ lỗi cho nhau. Hiệp hành được làm lại với con cháu Noê nhưng rồi họ xây tháp nửa chừng thì bỏ đi mỗi người một ngả thay vì đón nhận cái phong phú đa dạng của nhau. Hiệp hành lại tan vỡ vì tôi tớ của Abraham và của Lót không nhường nhịn nhau. May sao, Ápraham đã luôn nhường nhịn nên đại cuộc vẫn tiến hành. Hiệp hành lại suýt tan theo mây khói khi các anh của Giuse bán ông cho lái buôn nhưng lòng tin của Giuse đã đưa cả gia tộc đến chỗ phát đạt tại Ai Cập. Tinh thần hiệp hành đã giúp Môsê cống hiến tuổi già, dẫn đưa dân Chúa qua sa mạc nhưng chính ông lại phải cúi đầu thờ lạy ý Chúa và trút hơi thở cuối cùng ngay tại lối vào Đất Hứa. Hiệp hành đã làm đi làm lại với Saun, Đavít, Salomon, Giôsia cho tới Êlia, Isaia, Giêrêmia, Đanien, Êdêkien, Hôsê, Amos…

Sang Tân ước, hiệp hành được chính Con Thiên Chúa, qua những lời tâm sự trong bữa ăn cuối cùng, đúc kết thành mấy chữ yêu thương, xóa mình và hiệp nhất. Hiệp hành ấy nở hoa rực rỡ giữa một cộng đoàn nơi không ai xem cái gì mình có là của riêng nhưng coi mọi sự đều là của chung. Chẳng may, mở tiếp mấy trang sau đó của sách Công vụ tông đồ, bầu khí ấy đã lùi vào quá khứ.

Thế nhưng hiệp hành vẫn âm ỉ giữa lòng Dân Chúa. Vào thế kỷ III và IV, các cộng đoàn tu sĩ đầu tiên xuất hiện, đặc biệt tại Ai Cập, đánh dấu sự hình thành của lối sống đan viện với các tu sĩ sống biệt lập trong sa mạc, rừng vắng, xa rời đời sống thành thị, khởi đầu bằng các tu sĩ đơn lẻ rồi hình thành những cộng đoàn nhỏ, tạo nên phong trào tu trì Kitô giáo mạnh mẽ, tiên phong là các vị như Thánh Antôn Viện phụ và các đan sĩ sa mạc. Phong trào này lan rộng khắp Đông phương (Syria, Palestine) và dần sang Tây phương, đặt nền móng cho đời sống tu trì có tổ chức trong Giáo hội.

Đầu thế kỷ XIII, chàng nghệ sĩ Phanxicô ở Assisi tưởng đâu Chúa bảo đi xây lại ngôi nhà nguyện đổ nát bằng gạch, sau mới hiểu ra là phải xây dựng lại Giáo hội. Khó thay, vị thánh Phanxicô nào phải là giám mục hay linh mục, bản thân chỉ là giáo dân trơn… Đến thế kỷ XVI, lòng đạo của dân Chúa suy thoái, cả đến các đan viện cũng thành huyên náo… Người ta ùn ùn rời bỏ Giáo hội ra đi. Thánh Inhaxiô ở lại canh tân Giáo hội bằng Linh thao và đào tạo các nhà truyền giáo. Cô bé Têrêsa Avila mới 7, 8 tuổi đã trực giác thấy phải xây những đan viện. Lớn lên, vào Dòng, bà hiểu rằng phải chạy đua với cuộc cải cách ly khai bằng cách xây dựng lại các căn cứ của đời sống cầu nguyện, làm điểm xuất phát cho công cuộc truyền giáo… Bà đã nhìn lại những bước tiến tiền nhân đã đạt được hồi thế kỷ XIII. Bà quy tụ người, cả nữ giới và nam giới, viết sách linh đạo và xây nhà không mệt mỏi. Về sau bà là phụ nữ đầu tiên được tôn phong là tiến sĩ Hội thánh. Có một điều lý thú là thánh nữ Têrêsa Avila đã để lại mấy tác phẩm lớn, lần lượt nói về đời tư, đời cộng đoàn, bước đường vào nội tâm và những nỗ lực xây cất các cơ sở… và cả bốn lãnh vực này đan dệt với nhau thành một trải nghiệm xuyên suốt.

Giờ đây, không phải thế kỷ XVI nhưng là Thượng hội đồng Giám mục XVI, với Văn kiện Chung kết, lại mời gọi dân Chúa gửi đi một thông điệp ngôn sứ bằng lời nói và cuộc sống “hướng tới một Giáo hội hiệp hành” như tín hiệu hy vọng cho nhân loại. Khi đọc VC, tôi trộm nghĩ để thực hiện ước nguyện của THĐ, cũng cần nhìn lại những nỗ lực và thành tựu về hiệp hành của lớp người đi trước.

Khi đọc sách của thánh nữ Têrêsa Avila, tôi thấy cả bốn tác phẩm chính đều nêu rõ sự chênh lệch giữa sức người với ơn Chúa và mời gọi buông bỏ dự phóng riêng để bước theo chương trình của Thiên Chúa. Luận điểm ấy hầu như trùng khít với VC khi vận dụng trải nghiệm về mẻ cá đầy thuyền ở cuối Tin mừng Gioan để mời gọi dân Chúa hưởng ứng một sự hoán cải mới, chuyển đổi từ sức người sang ơn Chúa, từ những công việc nhân loại đến đại cuộc cứu rỗi của Chúa. Một luận điểm vừa lý giải được sự trì trệ của công cuộc loan báo Tin mừng trên toàn cầu vừa đưa ra một đáp án kỳ diệu cho bài toán – và hy vọng cũng là một luận điểm có thể giúp các bạn trẻ hiểu và say mê với lý tưởng hiệp hành.

Tôi xin chia sẻ về linh đạo hiệp hành theo như tôi hiểu bằng cách đọc nó dưới lăng kính linh đạo Cát Minh. Nếu đây chỉ là một sự lồng ghép khiên cưỡng thì xin mọi người đọc giải trí cho vui. Còn nếu đúng đây là giáo huấn xuyên suốt của Chúa từ các trang Kinh thánh Cựu ước và Tân ước đến nay, thì rất mong sẽ có những anh chị em khác cùng góp sức suy tư thêm, mong sẽ có phần hữu ích cho nỗ lực chung hiện nay của Giáo hội.

Một ghi chú nhỏ

Trước hết xin có một ghi chú nhỏ. Sau phần giới thiệu gồm 12 số, Văn kiện Chung kết bắt đầu với phần I: “Trọng tâm của tính hiệp hành – Được Chúa Thánh Thần kêu gọi hoán cải”. Tiếp đó, phần II mở đầu với trích dẫn từ Ga 21,2-3. Phần II gồm các số 49-78 nói về những mối tương quan mới. Có lẽ người đọc khó nắm được cách lý luận của văn kiện, đồng thời có thể tự hỏi: Tại sao nội dung trích dẫn không nhắc tới chi tiết “Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả” (câu 3b) để tìm xem lý do khiến việc loan báo Tin mừng bị khựng lại. VC không nhắc tới ở đây vì trước đó đã bàn rõ về thực tế ấy ở đoạn 46: “Ở mọi giai đoạn của tiến trình Thượng Hội đồng đều có âm vang nhu cầu chữa lành, hòa giải và xây dựng lại sự tin tưởng trong Giáo hội và trong xã hội, nhất là sau quá nhiều vụ bê bối liên quan đến các loại lạm dụng khác nhau”; đoạn 47 nói về đêm trắng tay của xã hội nhân loại và đoạn 48 về nguyên nhân dẫn đến thất thu là do thiếu “sự quan tâm lẫn nhau, tình liên đới và tinh thần đồng trách nhiệm vì ích chung” (đoạn 48). Chỉ cần chèn câu 3b trên đây và các số 46-48 vào trước số 49, ta sẽ đọc được một mạch văn xuyên suốt.

Mạch văn xuyên suốt của 5 phần VC

Để tránh rối rắm khi tiếp cận đan xen hai tài liệu cách nhau gần 5 thế kỷ, xin phép được tạm đồng bộ hóa tựa đề 5 phần của VC như trong ngoặc đơn.

Phần 1. TRỌNG TÂM CỦA TÍNH HIỆP HÀNH – Được Chúa Thánh Thần kêu gọi hoán cải. (Chúng ta là con cái Chúa).

- Bí tích Thánh tẩy xây dựng nên gia đình con cái Thiên Chúa (13-27).

- Tính hiệp hành trong gia đình con cái Thiên Chúa (28-33).

- Hiệp nhất trong đa dạng (34-42).

- Linh đạo hiệp hành (43-48).

Phần 2. CÙNG NHAU TRÊN THUYỀN – Sự hoán cải các mối tương quan. (Bên nhau như con cái Chúa).

- Vất vả luống công khi thiếu tương quan với Chúa (46-48).[1]

- Cần có Chúa ở cùng để tương quan với mọi người trở nên mới (49-52).

- Việc đổi mới các tương quan đa dạng trên cánh đồng truyền giáo (53-56).

- Mọi thành phần Dân Chúa đều cần được coi trọng (57-67).

- Các thừa tác vụ có chức thánh (68-74).

- Các thừa tác vụ không chức thánh (75-78)

Phần 3. THẢ LƯỚI – Hoán cải các tiến trình. (Phân định với nhóm). (Chọn lựa và quyết định như con cái Chúa).[2]

Phần 4. MỘT MẺ LƯỚI ĐẦY – Hoán cải về các mối liên kết. (Nhìn nhận những giới hạn của ta và cần đến sự chung tay góp sức của mọi người). (Lan tỏa tinh thần con cái Chúa từ các mục tử).

Phần 5. THẦY CŨNG SAI ANH EM – Việc hình thành một dân gồm những môn đệ truyền giáo (Việc đào tạo). (Đào tạo tinh thần con cái Chúa).

Từ mạch văn xuyên suốt ấy, xin mời cùng theo dõi xem nét tương tự giữa linh đạo hiệp hành và linh đạo Cát Minh.

1. CHÚNG TA LÀ CON THIÊN CHÚA

Vừa mở quyển Lâu đài nội tâm của Thánh nữ Têrêsa Avila sang chương 2, đọc thấy “Chương này cũng trình bày nhiều tư tưởng về sự biết mình”, nhiều độc giả nghĩ ngay: Bà thánh này lại sắp mời mình ôn lại thân phận yếu hèn tội lỗi nữa đây! Thế nhưng ngược hẳn, bà thánh chỉ muốn nhắc ta đừng quên phẩm giá cao quý của mình là được làm con Thiên Chúa.

VC của THĐ XVI cũng mở đầu với ơn làm con Thiên Chúa do Bí tích Thánh Tẩy đem lại (x. 13-27), giúp ta làm chứng bằng đời sống đức tin và đức ái (x. 22). THĐ chạm thẳng vào điểm then chốt là tình yêu thương, hiệp nhất (x. Mt 9,13; 1Cr 13,1-13), không phải trên mặt lý thuyết nhưng cần được thể hiện nơi cách ứng xử hằng ngày. Giáo hội được quy tụ “trở thành chất men hữu hiệu của các mối liên kết, các mối tương quan và tình huynh đệ của gia đình nhân loại, … nhằm hiệp nhất toàn thể nhân loại, … là hạt mầm và điểm khai nguyên của vương quốc ấy trên trần gian” (x. 20). Sự hiệp nhất ấy là đòi hỏi chung cho Giáo hội ở mọi cấp độ (x. 18)), là hoa trái của ba bí tích khai tâm (x. 14-27).

Thánh nữ Têrêsa Avila và THĐ XVI có chung một khởi điểm: thay vì mời gọi sống tốt để được cứu, cả hai đều nhấn mạnh: Vì đã được làm con cái Chúa, ta có trách nhiệm đáp đền tình yêu Chúa, xây dựng tình hiệp nhất và yêu thương. Đây là hướng truyền giáo tích cực. Mục “Gàu nước hiếm và cơn mưa đang đến” dưới đây sẽ cho thấy hiệu năng nhảy vọt của loan báo Tin mừng theo kiểu dậy men và tỏa sáng.

Từ một đoạn Kinh thánh đến một nẻo tâm linh

Rất nhiều người nghe nói đến quyển Lâu đài nội tâm của thánh nữ Têrêsa Avila nhưng ít người đọc nó, vì tựa đề có vẻ như là quyển sách dành riêng cho việc chiêm niệm của các đan nữ dòng kín. Thế nhưng trước khi viết quyển sách, tác giả đã xây dựng đan viện Cát Minh cải tổ đầu tiên rồi sau đó, chỉ trong 15 năm cuối đời, bà đã thành lập thêm 16 đan viện khác và tường trình lại thành quyển Ký sự thành lập các đan viện. Quyển ký sự cho thấy nữ tu Dòng Kín rất giàu kinh nghiệm hoạt động, hơn nữa đời sống cầu nguyện và đời sống hoạt động của bà cùng có chung một trải nghiệm “sức người góp một, trời cao giúp mười”.

Từ phần II, VC của THĐ XVI quy chiếu về Gioan chương 21, một trình thuật tiêu biểu về sự chênh lệch giữa sức người và ơn Chúa. Trình thuật này gợi lại những tình huống tương tự, rải đều suốt lịch sử thánh, từ Cựu ước đến Tân ước, sẽ soi sáng cho ta về một nẻo tâm linh, về bước chuyển từ công cuộc con người đến đại cuộc của Chúa. x. VC, 43-48.

NHÂN VẬT

SỨC NGƯỜI

ƠN CHÚA

Sách

Abraham

khao khát một đứa con

tổ phụ nhiều dân tộc xưa và nay

St 22,16-17

Giacóp

tìm một chốn nương thân

thang từ đất lên trời

St 28,10-13

Giuse

làm chủ bản thân

tể tướng triều đình

St 45,9

Môsê

bênh vực một người đồng chủng

giải phóng toàn dân

Xh 2, 11-15

Môsê

chỉ còn chút sức tàn của tuổi già

dẫn đầu đoàn dân suốt 40 năm sa mạc

Xh 7,7

Giôsuê

Họ chỉ đi vòng quanh, thổi tù và

tường thành sụp đổ

Gs 6

Ghiđêôn

Chỉ 300 quân

Địch tán loạn bỏ trốn

Tl 7,19-25

Samson

bị khoét mắt

Xô đổ đại hí trường giết chết hàng ngàn người

Tl 16,28-30

Saul

Con lừa

Dân nước Israel

1Sm 9,20

Đavít

Giàn thun + 5 viên đá

thắng Gôliát

1Sm 17,49

Êlia

Một lời cầu nguyện

Lửa từ trời

1V 18,38

Esther

Ăn chay, cầu nguyện

Đảo ngược tình thế

Et 6,11; 8,7-8

Tiệc cưới Cana

Nước lã

Rượu hảo hạng

Ga 2,1-12

Trong hoang địa

5 chiếc bánh

5000 người

Ga 6, 1-15

Lễ Ngũ tuần

Bài giảng dân chài

3000 người tin Chúa

Cv 2

Trời mới đất mới

Đền thờ cũ

Giêrusalem từ trời

Kh 2


Ta có thể kéo dài danh sách thêm nhiều nữa, với những câu chuyện xác nhận cho lời Chúa nói: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng nấy” (Is 55,8-9); và lời khác trong Tân ước: “Thiên Chúa có thể dùng quyền năng đang hoạt động nơi chúng ta, mà làm gấp ngàn lần điều chúng ta dám cầu xin hay nghĩ tới” (Ep 3,20)

Con người bị bế tắc và Thiên Chúa khai thông

Văn kiện Chung kết của THĐ XVI chỉ ngầm nhắc lại chuyện thất bại thê thảm của Thánh Phêrô và các Tông đồ. Họ đánh cá vất vả suốt cả một đêm chẳng được con cá nào, thế nhưng khi có Chúa đến, Chúa chỉ nói một câu ngắn, “thả lưới bên phải thuyền!”, và họ làm theo thì được ngay một mẻ biết bao là cá, cá thật lớn và đầy ắp cả thuyền. THĐ về Hiệp hành muốn nói rằng ở thế kỷ XXI này cũng thế. Ta đang nản lòng vì kéo mãi chỉ toàn những mẻ lưới rỗng, bây giờ đến lúc phải lắng nghe xem Chúa đang nói gì. Chỉ cần nghe Chúa đang bảo gì và làm theo ngay thì Giáo hội sẽ kéo được mẻ lưới đầy, vượt sức tưởng tượng.

Thật bất ngờ, cả đoạn Kinh thánh làm nền và cách giải trình của THĐ đều rất gần với trải nghiệm cầu nguyện của Thánh nữ Têrêsa Avila trong quyển Lâu đài nội tâm. Có sự trùng hợp giữa hai nẻo đường, một bên là đường vào nội tâm, một bên là đường đến với muôn dân.

2. BÊN NHAU NHƯ CON CÁI CHÚA

Đây là phần II của VC (49-78).

Trước hết, hiệp hành là đi với nhau. Không phải là cùng nhau đi tới một nơi nào đó. Chiếc thuyền ở Tin mừng Gioan chương 21, không nhằm nói tới đi từ nơi này tới nơi kia nhưng là một chuyến ra khơi cùng làm việc với nhau rồi vẫn quay về bến cũ, với các thành quả.

Hiệp hành là cùng đi với nhau, không phải theo kiểu dung dăng dung dẻ vô tội vạ, nhưng cùng giúp đỡ lẫn nhau đang khi đi, như các màu trên một bức tranh vừa phải khác nhau vừa phải đi với nhau. Các nốt trên một bài nhạc, các dòng nhạc trên một bản hợp xướng phải đi với nhau, các món trên một bàn ăn cũng phải đi với nhau. Hiệp hành là cùng đi với với nhau theo nghĩa là cùng ăn ý với nhau và ăn ý với Chúa.

Hiệp hành là kết nối thành một tổng thể hài hòa, đồng điệu để nhờ đó mà nâng cao phẩm chất.

Để hiệp hành, phải cùng chung một mục tiêu, không thể mỗi người một hướng. Hiệp hành chẳng những là không đả kích, đả phá lẫn nhau, mà còn là ủi an, nâng đỡ, tán dương, khích lệ nhau, cùng giúp nhau làm tròn sứ mạng.

Ngày nay, tình yêu thương hiệp nhất sẽ là ngôi sao rực sáng dẫn đường và cuốn hút. Để mỗi cộng đoàn thành một Giáo hội yêu thương hiệp nhất, mỗi giáo phận, giáo xứ cũng như các gia đình trong giáo xứ phải yêu thương và hiệp nhất, con cái cần biết nghe lời bố mẹ để gia đình luôn êm ấm thuận hòa.

Không chỉ hiệu năng truyền giáo tùy thuộc ở hiệp hành mà cả hiệu năng của cầu nguyện cũng tùy thuộc ở hiệp hành. Sau khi đan viện cải cách đầu tiên được phép hoạt động, chị em trong nhà xin Thánh nữ Têrêsa Avila viết cho họ một tập chỉ dẫn về cầu nguyện. Bà đã viết cho họ quyển Đường hoàn thiện. Trước khi dành 8 chương bàn về những khó khăn của cầu nguyện rồi 14 chương cầu nguyện theo kinh Lạy Cha, bà đã dành 18 chương giúp họ biết tạo thuận lợi cho việc cầu nguyện sâu xa trong đời chiêm niệm bằng cách sống hiệp hành:

- Chương 1-3: sự chọn lựa sống nghèo.

- Chương 4-7: tình chị em.

- Chương 8-14: sự buông bỏ.

- Chương 15-18: sự khiêm nhường.

- Chương 19-26 cũng nhằm nhấn mạnh sự kiên quyết.

Ta gặp lại những đức tính ấy trong đoạn 43 của VC: “Linh đạo hiệp hành cũng đòi hỏi sự khổ hạnh, khiêm tốn, kiên nhẫn, và sẵn sàng tha thứ cũng như đón nhận sự tha thứ”. Yêu thương, buông bỏ và khiêm nhường đúng là ba nhân đức căn bản, vì chúng là đối trọng của tam độc mà các phật tử đã khám phá, nó ngược lại tham sân si, cội rễ của mọi hư hỏng trên đời. Chúng còn là những nhân đức xây dựng đời sống hiệp hành của cộng đoàn và là cầu nối giúp người tu sĩ sống triệt để ba lời khuyên Tin Mừng: nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục. Đi xa hơn, chúng dẫn lối lên tận ba nhân đức hướng thần: tin, cậy, mến.

3a. THIÊN CHÚA ĐỢI GÌ NƠI CON CÁI NGÀI

THĐ XVI giới thiệu với toàn thể Dân Chúa những nét lớn của linh đạo hiệp hành, dậy men và tỏa sáng, ứng dụng cho mọi đơn vị lớn nhỏ trong Giáo hội, khởi đi từ những tế bào là các gia đình nhỏ. Xây dựng hiệp nhất và yêu thương từ gia đình đến giáo xứ quả là thách đố lớn giữa cơn đại hạn, cần vượt được, trời mới mưa xối xả, ruộng vườn mới thôi cằn cỗi, mùa màng lại tốt tươi.

A. Lắng nghe Chúa Thánh Thần

VC không nhắc tới các gia đình này như một thông lệ nhưng thật sự quan tâm cách rất đặc biệt qua các đoạn 7, 35, 50, 58, 59, 60, 64, 118, 144, 146, cách riêng là hai đoạn 35 và 64. Tuy nhiên phần III của văn kiện (79-108) chỉ một lần duy nhất nhắc đến “gia đình nhân loại”, không nói gì đến gia đình nhỏ. Nội dung cụ thể của phần này chỉ liên quan tới Giáo hội từ cấp giáo xứ (86, 103, 105, 107) trở lên. Những người quan tâm đến mục vụ gia đình, đọc qua phần này, có thể cảm thấy hụt hẫng. Tuy nhiên vẫn còn một cụm từ có liên quan là “phương pháp đối thoại trong Thánh Thần” (105). Vâng, các đơn vị nhỏ của Giáo hội Chúa, cả khi chỉ có hai người, vẫn gặp những thách đố cam go như các đơn vị lớn trong Giáo hội, và “phương pháp đối thoại trong Thánh Thần” chính là chìa khóa giúp giải gỡ các vấn đề. “Chồng giận thì vợ bớt lời/ Cơm sôi bớt lửa thì đời nào khê!” Chính Chúa Thánh Thần sẽ giúp cuộc đối thoại sinh hoa trái để đạt tới ước mơ chung lớn nhất của hai người: “thuận vợ thuận chồng, tát bể đông cũng cạn”. Chính Chúa Thánh Thần sẽ trao ban những món quà kếch sù bất ngờ nhất.

Vâng, ở nơi VC không nói, Chúa Thánh Thần sẽ dạy ta bổ sung bằng trải nghiệm của ngôn sứ Êlia và hậu duệ tinh thần của ông. Vị ngôn sứ này đã từng chắt từng ngụm nước tại khe Carít, thế rồi trên núi Cát Minh, khi chú tiểu đồng báo cho biết có lọn mây bằng bàn tay xuất hiện, ông bảo chú lên trình vua Akháp đánh xe xuống gấp vì trời sắp mưa như trút. Vị vua này đã chấp nhận cuộc đối thoại với Êlia, và ông nhận được hoa quả của cuộc đối thoại trong Thánh Thần.

Đáp án từ núi Cát Minh không dành riêng cho các gia đình nhỏ nhưng chung cho mọi linh hồn tín hữu và mọi đơn vị lớn nhỏ trong Giáo hội. Bất cứ ở cấp giáo hội nào, hễ ta quyết định đảo chiều, buông bỏ sự mê thích các thụ tạo để đáp lại tiếng gọi của Chúa Thánh Thần, ta sẽ thôi vất vả vì những gàu nước hiếm và được thỏa thuê tắm mát giữa cơn mưa tầm tã.[3]

B. Chuyển từ sức người sang ơn Chúa

THĐ XVI có mục đích giúp Dân Chúa nhận ra tiếng gọi hoán cải của Chúa Thánh Thần trong thời đại này. Bốn phần trong năm phần của VC đều có phụ đề về hoán cải:

- Được Chúa Thánh Thần kêu gọi hoán cải (phần 1).

- Hoán cải các tương quan (phần 2).

- Hoán cải các tiến trình (phần 3).

- Hoán cải các mối dây ràng buộc (phần 4).

Ba phụ đề sau thật lạ. Xưa nay ta đã nghe nói hoán cải là từ bỏ tội lỗi để quyết tâm lên đường theo Chúa hết lòng. Các mối tương quan vẫn có đó, các tiến trình ra quyết định vẫn có đó, các mối dây ràng buộc vẫn có đó, xưa nay chẳng ai đặt vấn đề gì cả, tại sao giờ đây, THĐ lại mời gọi Dân Chúa phải hoán cải về những điều ấy? Ở đây THĐ cho thấy có thể chúng ta đã rơi vào cám dỗ làm điều tốt, tức là hài lòng với những điều có vẻ tốt nhưng không phải là điều Thiên Chúa chờ đợi (x. Mt 7,21-23). Dường như các mối tương quan cũng như tiến trình đi đến quyết định và các mối liên kết đã suy thoái thành chuyện của người đời chứ không phải của con cái Chúa. Các tương quan ấy không còn đậm phẩm chất Tin mừng (x. 50), giờ đây ta cần học hỏi và áp dụng thái độ của Chúa Giêsu vào đời ta (x. 51). Đoạn 79-80 đặt vấn đề có thể các tiến trình hiện chưa đáp lại đúng Lời Chúa, các đoạn còn lại của phần III cho thấy cần có sự phân định nghiêm túc. Đoạn 109 cho thấy vẫn có những mối liên kết nhưng chưa được phối hợp, phần IV mời gọi thay đổi cách ứng xử cho phù hợp với hoàn cảnh hiện nay.

Đối chiếu năng động của VC với các trải nghiệm của Thánh nữ Têrêsa Avila ta sẽ hiểu. Trong quyển Tiểu sử tự thuật, bà cho thấy hai cấp độ cầu nguyện có kết quả rất chênh lệch: Khi ta tự cố gắng, thì chỉ như múc từng gàu nước (1), hoặc nhiều lắm sẽ như làm guồng để quay lên liên tục múc từ gàu này tới gàu khác (2). Còn khi ta biết để cho Chúa Thánh Thần cầu nguyện thay thì sẽ như được kênh mương dẫn nước nguồn về tận vườn (3) và hơn nữa, có thể như trời mưa, chỉ năm phút thôi, nước đã thấm đều và chảy lênh láng khắp nơi (4).[4]

Hai cách do sức người (1 và 2) được gọi là cầu nguyện chủ động (dựa trên cố gắng riêng là chính), hai cách do ơn Chúa (3 và 4) gọi là cầu nguyện thụ động (chính Thiên Chúa có sáng kiến và ban ơn, ta chỉ đón nhận).

Trong quyển Lâu đài nội tâm, Thánh nữ Têrêsa sẽ trình bày sự chênh lệch giữa hai cấp độ một cách khác.

C. Vượt khỏi chủ quan để đạt đến ý Chúa

Đường vòng tiến vào nội tâm

Quyển Lâu đài nội tâm gồm 7 phần hay 7 mức ở lại, có thể ví như một đường tiến sâu vào nội tâm qua bảy vòng xoắn ốc như những vòng tiến vào hoàng thành Cổ Loa của ta xưa. Tại chính giữa là vòng thứ bảy, đúng hơn, là chính tâm điểm, nơi Đức Vua ngự trị. Sáu vòng chung quanh có thể chia thành hai giai đoạn:

* Ba vòng luân lý phía ngoài mang tính thanh tẩy, mời ta “tu tâm dưỡng tánh”, rất gần với nhiều kinh nghiệm ngoài Kitô giáo:

- Vòng 1: thắng tội trọng.

- Vòng 2: thắng tội nhẹ.

- Vòng 3: thắng cám dỗ làm điều tốt, nhận rõ và buông bỏ điều tốt chủ quan.
Tại vòng 1 và vòng 2, kinh nghiệm Kitô giáo hoàn toàn trùng khít với kinh nghiệm ngoài Kitô giáo. Tới vòng 3, hầu như đôi bên lặng lẽ chia tay. Một bên dừng lại với sự hoàn thiện chủ quan, ở bình diện luân lý; một bên tiến lên theo ý Chúa đến vô tận nhờ hoàn toàn “bỏ mình, vác thập giá theo chân Chúa”, thập giá ở đây là chính ý Chúa (x. Mt 7,21-23; Mt 11,28-30).

Đường vòng tiến vào nội tâm nhìn

dưới góc độ từ dứt bỏ đến hiệp nhất

* Giai đoạn hướng thần gồm ba vòng phía trong, hoàn toàn lệ thuộc sáng kiến của Thiên Chúa:

- Vòng 4: Bình an với bổn phận.

- Vòng 5: Hiệp nhất với Chúa trong một lòng muốn.

- Vòng 6: Thử thách cực độ (đêm đức tin) dẫn vào sự hiệp nhất trong tình yêu ở tâm điểm (vòng 7).

Bảy vòng là bảy mức ở lại tiêu biểu, đồng thời mỗi mức ở lại còn bao gồm vô vàn những phòng, đa dạng, tráng lệ, cũng là những những mức ở lại muôn màu muôn vẻ, càng vào gần tâm điểm, nơi Đức Vua ngự trị, mọi sự càng rực rỡ chói sáng.

Công cuộc của nhân loại

Nhờ lời nguyện tha thiết, ta mở được cửa lâu đài. Khởi đầu, những cố gắng đầy tự tin ở hai vòng ngoài có thể nói là giống như công cuộc của nhân loại. Sang vòng thứ ba, hoặc ta hài lòng với những gì đã đạt được và dừng lại, hoặc khi nhận ra mình bất lực, ta phó thác cho Chúa, hoàn toàn tin vào Thiên Chúa, thuận theo sự chủ động của Thiên Chúa và đón nhận công cuộc của Ngài. Ba vòng ngoài là những vòng chủ động, bốn vòng trong là những vòng thụ động hay đón nhận.

Nhiều người thiện chí ngoài Kitô giáo có thể không biết đến toàn cảnh của lộ trình nhưng cũng đang ráo riết theo đuổi ba vòng ngoài. Ở đây, chính Thiên Chúa tạo cho ta cơ hội tự xoay xở, sáng kiến và nỗ lực để tiến từ vòng đầu, sang vòng thứ hai rồi tới vòng thứ ba. Trong giai đoạn này, sự đóng góp của bản thân mỗi người là nhân tố quan trọng và cần thiết, cho nên gọi được là giai đoạn chủ động.

Giai đoạn hoàn thiện luân lý gồm ba mức ở lại, có thể ví như một ngọn tháp nhiều tầng dưới đây. Nó tượng trưng cho giai đoạn chủ động, với nhiều cố gắng của sức riêng, cũng có thể gọi là giai đoạn chủ quan. Với hai mức đầu, các Phật tử và các Kitô hữu có chung một trải nghiệm: diệt mầm mống của tội là tam độc: tham, sân, si và tiến theo hướng ngược lại. Người Phật tử tiến theo hướng tam học là giới, định, tuệ. Người Kitô hữu luyện ba nhân đức căn bản là: yêu thương, khiêm nhường và buông bỏ, là những điều tóm tắt bảy điều sau trong mười điều răn của Chúa.

Từ chiêm niệm tới hoạt động

Trải nghiệm về cầu nguyện chủ động và cầu nguyện thụ động trong Tiểu sử tự thuật (hay Đời con) được tiếp nối nơi 3 tác phẩm sau:

Đường hoàn thiện: Chủ động và thụ động trong việc xây dựng đời sống cộng đoàn.

Lâu đài nội tâm: Chủ động và thụ động trong việc đổi mới tâm hồn.

Ký sự thành lập các đan viện: Chủ động và thụ động trong việc mục vụ tông đồ.

Trong 20 năm, từ 1562-1582, thánh nữ Têrêsa Avila xây dựng hoàn thành 17 nữ đan viện Cát Minh... chưa kể việc đồng hành trong việc thành lập các đan viện ngành nam. Mỗi năm 12 tháng, 20 năm là 240 tháng, chia cho 17, mỗi đan viện nhận được 14 tháng… Mấy ai trong lịch sử được một ơn như thế? Chẳng phải là một cơn mưa các cát viện đó sao?

D. Tiếng gọi vượt thoát

Trong Lâu đài nội tâm, Thánh nữ Têrêsa Avila cho thấy Mức ở lại Thứ Ba thật đáng mừng nhưng đồng thời phải sáng suốt để không rơi vào nguy cơ thụt lùi.

Với những người không đặt vấn đề có Thiên Chúa, họ thường dừng lại ở đây và chọn điều họ thích. Cũng có thể họ trực nhận được tiếng Chúa qua tiếng lương tâm, qua tiếng gọi tình thương hoặc của sự thật tuyệt đối, và họ quả cảm “tấn nhất bộ”, tức là nhảy thêm một bước vượt khỏi mọi suy nghĩ thường tình. Khi họ đã quyết chọn Thiên Chúa dù chưa biết Ngài như thế, Ngài sẽ từng bước lôi cuốn họ tiến xa hơn trên lộ trình tiến vào nội tâm, chung bước đường giai đoạn thứ hai với các Kitô hữu. Bước nhảy “tấn nhất bộ” đúng là một bước nhảy vọt ra khỏi mình, thoát khỏi chủ quan để hoàn toàn thuộc về Chúa. Dù họ không niệm đúng Danh Chúa, Chúa vẫn từng bước dẫn dắt họ tiến vào tâm điểm của tòa lâu đài là chính Chúa.

Còn với những người tin nhận Thiên Chúa Tạo Hóa, những đề thi tại Mức ở lại Thứ Ba là cơ hội để tiến tới: Nếu vẫn quyết bám chặt những điều tâm đắc, họ sẽ bị kẹt trong chủ quan, không được tự do, nói cách khác là không được giải thoát, không được cứu. Giữa hai điều tốt, họ cần biết bỏ điều tốt chủ quan để chọn điều tốt Chúa muốn. Cần thắng vượt những cám dỗ làm điều tốt, cần tránh những điều tốt chủ quan không cần thiết.

Thiên Chúa đã ban tặng cho họ có lương tâm, và mời gọi họ sống theo lương tâm ngay thẳng và tấm lòng trong sạch. Cả với những người không nhận biết Thiên Chúa, Ngài vẫn tạo điều kiện cho họ cộng tác, vẫn âu yếm nhìn họ và kiên trì dẫn dắt. Do chủ quan, họ có thể tưởng lầm mọi thành tựu đều do cố gắng riêng. Những thiện chí của họ hướng đến sự hoàn thiện luân lý, ăn ngay ở lành, rất đáng ca ngợi. Nếu được biết có Thiên Chúa đang chờ đợi để hỗ trợ, chắc hẳn họ đã nắm lấy tay để được Ngài dìu dắt tiến vào những vòng phía trong sâu thẳm hơn.[5]

E. Bảng chỉ đường hy vọng

Thầy Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương thường bảo, có lẽ chưa ai trong loài người đã vươn tới tận đỉnh tháp như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Vị giáo sư này đã từng kinh kệ, tầm sư học đạo ở chùa và nhận thức rõ như thế nhưng rồi ông đã bỏ Phật theo Chúa, tại sao? Tại vì ông hiểu ra rằng đức tin Kitô giáo vượt xa sự hoàn thiện luân lý; đức tin dẫn đến lòng trông cậy Chúa, yêu mến Chúa và thuộc về Chúa trọn vẹn chứ không dừng lại nơi sự ăn ngay ở lành. Cũng theo ý ấy, trong quyển “Vượt qua ngưỡng cửa hy vọng”, Thánh Gioan Phaolô II viết: “Thánh Gioan Thánh Giá khởi đi từ chỗ Đức Phật dừng lại.” Đức Phật đã đạt tới đỉnh cao của sức người rồi dừng lại ở đó, không đặt vấn đề lắng nghe và hưởng ứng tiếng gọi của Thiên Chúa là Cha trên trời và là Đấng Tạo Hóa.

1

2

3

4

5

6

7

Hoàn thiện luân lý =>

 

 

Hướng về Thiên Chúa =>

 

 

=> Hiệp nhất với Chúa trong tình yêu

Thắng tội trọng

Thắng tội nhẹ

Bỏ điều tốt

chủ quan

Bình an

trong bổn phận

Hiệp nhất

một lòng muốn

Đêm đức tin

 

Yêu thương

Khiêm nhường

Buông bỏ chủ quan (chọn ý Chúa)

Tin

Cậy

Mến

 

Bất lực/ Phó thác cho Chúa

Bị bỏ rơi/ Chia sẻ đau thương với Chúa

 

 

 

 

 

Đã nghe hoặc chưa nghe được tiếng Chúa gọi.

 

 

Đáp lại tiếng Chúa gọi.

 

 

 

Chủ động

 

 

Thụ động

 

 

 

(a) Chung với nhóm ăn ngay ở lành

 

 

(b) Riêng của Kitô giáo

 

 

 

F. Để cho Chúa Thánh Thần dẫn dắt

Ta gọi tắt các Mức ở lại là 1M đến 7M. Tại 3M có một cuộc thi cần thiết và ta đã từng nhiều lần giải đáp đúng, đó là biết phó thác. Điều quan trọng tiếp theo là cần rút kinh nghiệm để đi đến chỗ quyết tâm buông bỏ tầm nhìn hoàn thiện luân lý để chuyển sang sang tầm nhìn hướng thần, tức là chỉ nhắm tin, cậy và yêu mến Thiên Chúa. Đây là cuộc hoán cải VC nhắm tới. Cuộc hoán cải này sẽ đưa ta vào trải nghiệm về quyền năng của Thiên Chúa: Chính khi ta thú nhận sự bất lực của mình, Thiên Chúa liền tỏ hiện chiến thắng của Ngài nơi ta (x. Ep 3,20). Đoạn 46 và 47 của VC cho thấy đã đến lúc ta cần thú nhận sự bất lực của phận người.

Nhìn vào bảng tóm tắt, ta có thể tự hỏi, trong các Kitô hữu trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng hiện nay, có bao nhiêu người đang nài xin Chúa đưa vào tận mức thứ Bảy (b), hay chỉ loay hoay mãi ở ba vòng đầu (a). Hỏi và trả lời rồi ta sẽ hiểu tại sao chính Chúa Giêsu đã thổn thức: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8). Từ đó ta cũng sẽ hiểu VC có 5 phần thì 4 phần đầu đều có phụ đề là “hoán cải”, có nghĩa là THĐ mời gọi ta phải vượt thắng những cám dỗ làm điều tốt.

Ba nhân đức căn bản: yêu thương, khiêm nhường và buông bỏ là phát hiện của Thánh nữ Têrêsa Avila trong quyển Đường hoàn thiện, tác phẩm đi từ luân lý tự nhiên đến đạo làm con Thiên Chúa của kinh Lạy Cha. Chúng là cầu nối giữa tự nhiên và ân sủng. Nếu ta dừng lại ở sự trọn lành luân lý, chưa chắc ta đã hơn ai; ai cũng tâm đắc với cái hay riêng và chẳng ai thích bỏ cái hơn của mình để chọn cái kém của người; ngược lại, nếu các Kitô hữu quyết vươn tới sự trọn lành của chính Thiên Chúa (x. Mt 5,48; Lc 6,36), Kitô giáo sẽ trở nên hấp dẫn, lôi cuốn.

Bảng tóm tắt cho thấy lòng Chúa thương xót mở cho ta những cuộc thi đầy ưu ái:

- Tại 3M: thoát khỏi chủ quan để đón nhận chương trình Thiên Chúa.

- Tại 4M: chu toàn bổn phận hằng ngày.

- Tại 5M: say mê ý Chúa để được hiệp nhất với Chúa trong một lòng muốn.

- Tại 6M: cuộc thi đau thương mở thẳng sang 7M.

Như thế, bên bộ ba hoàn thiện luân lý, các cảnh huống 1, 2, 3 tiến lên dần; còn bên bộ ba hướng về Thiên Chúa, ba cảnh huống 4, 5 và 6 không phải là ba trình độ thấp cao mà là những ơn khác nhau do Chúa ban, trong đó, cảnh thứ 6 là cánh cửa mở vào cảnh thứ 7. Đi xa hơn, chứng từ của người gian phi thống hối còn khẳng định rằng lòng Chúa thương xót còn muốn đưa ta đi thẳng từ 1M qua 6M để đến tận 7M.

G. Vượt tháp chủ quan

Từ chuyện người gian phi được Chúa tiếp đón, ta có thể vẽ nên đồ hình vượt tháp chủ quan như sau:

Ngọn tháp tượng trưng cho những thành tựu của sức người, có một đỉnh cao.

Bên cạnh ngọn tháp là những mũi tên xuất phát từ những độ cao khác nhau, xuất phát cả từ lòng đất đen nhưng vươn tới tận mây xanh. Những mũi tên này tượng trưng cho tác động của Thiên Chúa. Khi con người giao phó đời mình cho Thiên Chúa, Ngài sẽ đưa họ lên tới tầm mức Ngài muốn, theo vận tốc Ngài muốn.

Những người không biết đến tác động của Thiên Chúa, khi đạt tới đỉnh tháp, sẽ hài lòng với nỗ lực bản thân. Họ dừng lại theo cái nhìn của họ. Ngọn tháp có thể rất cao nhưng chỉ mới là một chiều cao chủ quan. Đang khi đó, Thiên Chúa vượt cao vô tận bên trên ngọn tháp và trong chương trình sáng tạo của Ngài, Ngài dành cho mỗi thụ tạo một tầm cao trổi vượt và Ngài có cách để nâng họ tới tầm cao ấy. Cả khi thụ tạo ấy là một trẻ thơ.

Hiểu như thế, loan báo Tin mừng không phải là thuyết phục nhưng là chính bản thân ta cần có tầm nhìn đức tin sâu sắc và tha thiết muốn chia sẻ tầm nhìn ấy cho mọi người. Một câu hỏi cần đặt ra: Liệu đám người của Chúa giờ đây có khao khát một tầm nhìn đức tin như thế chăng? Mong thay, các linh mục, tu sĩ, chủng sinh và các giáo lý viên của Chúa đừng sợ tiến lên. Hãy quả cảm tiến lên, bạn sẽ luôn được nhiều hơn mất. Đừng sợ theo đuổi tám mối phúc để đạt được Nước Trời. Đừng sợ ra khỏi mình để được tự do. Đừng sợ xóa mình để nhận được vô tận. Hơn hết, bạn sẽ gặt hái được vinh quang lớn nhất dành cho bạn trong cõi đời đời (x. Lc 22,28-30; 3M 2,8).

Điểm chính của loan báo Tin mừng không cốt ở tìm thêm được nhiều người nhưng cốt ở giúp cho mọi người thật sự buông bỏ cái tầm nhìn chủ quan để hoàn toàn phó thác đời mình cho Chúa. Thế nhưng, ta đã bị kìm chân cách nào?

H. Trở ngại khiến ta dừng bước

Đầu thế kỷ XXI, Giáo hội Công giáo đang ráo riết nhìn lại sự tiến thoái của mình trên bước đường tâm linh và thành quả loan báo Tin mừng. Điều đáng buồn là nhiều người và nhiều nhóm chỉ loay hoay với sức người, quên mất rằng Thiên Chúa đang chờ ta đến với Ngài để thực hiện cho ta gấp ngàn lần những gì ta dám cầu xin hay nghĩ tới (x. Ep 3,20).

Đối chiếu ta sẽ thấy những điều Thánh nữ Têrêsa Avila nói tại Mức ở lại Thứ Ba (x. 3M 2,1-7) sẽ được phản chiếu nơi Văn kiện Chung kết (đã nói ở trên) và nơi Tông huấn Tiếng gọi nên thánh trong thế giới ngày nay của Đức Thánh Cha Phanxicô, cảnh báo rằng cá nhân cũng như các cộng đoàn Công giáo vẫn có nguy cơ dừng lại vì thái độ chủ quan, lắm khi là thái độ chủ quan tập thể. Hai kẻ thù đang khiến các tín hữu dừng lại, không tiến bước trên đường nên thánh, là não trạng Ngộ đạo (ảo tưởng, tự cho mình đã đạt đạo) và não trạng Pêlagiô (tự mãn, chỉ dựa vào sức riêng). Để vượt thắng não trạng chủ quan cá nhân, mỗi người cần biết sáng suốt phân định nhờ việc xét mình mỗi ngày (Vmhh, 169)

Khi đã được ơn Chúa để phản ứng đúng tại Mức ở lại Thứ Ba, ta cần đảo chiều để công cuộc nhân loại lại trở thành công cuộc của Thiên Chúa, cần quyết tâm đứng vững để được Chúa lôi cuốn vào và kiên trì đến phút chót. Chính Chúa Giêsu đã xem Tiền của là đối trọng chống lại Thiên Chúa (x. Mt 6,24). Vị Thánh nữ được ơn cải tổ Dòng Cát Minh xác tín đức nghèo khó là nền móng để giữ gìn đức tin vào Chúa (x. Đời con ch. 32-36; Đht ch. 1-3).

Trong VC, tại phần III, THĐ thẳng thắn đem chuyện thu chi ra làm minh họa điển hình cho việc phân định, cũng là để giúp mỗi nơi tự kiểm điểm lại về tinh thần nghèo khó, về sự trung thực trong tiền bạc, từ việc tổ chức lễ lạt hoành tráng cho tới việc xây cất cơ sở, đền đài đồ sộ… Nơi mọi việc ấy chính Chúa đang muốn gì? Các bài đọc phụng vụ thánh lễ và giờ kinh sách mùa Chay nói rất rõ nhưng dường như ta có khuynh hướng nghĩ rằng “thì Giáo hội cũng phải nói vậy thôi, chẳng lẽ… nhưng…”, hoặc “Đã hẳn là thế, nhưng … cũng có trường hợp ngoại lệ chứ…” và chúng ta có đủ cách ngụy biện để khỏi đặt nặng câu hỏi chính Thiên Chúa đang muốn gì? Nếu chúng ta thẳng thắn, nhìn trực diện vào điều VC đang muốn nói… chắc hẳn là “các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông” (Ga 8,32).

l. Chọn bước theo Chúa Thánh Thần

Với tựa đề “Thả lưới – hoán cải các tiến trình”, phần III của VC không đề nghị những kỹ thuật giúp đạt tới sự đồng thuận nhưng nhắm tới phân định “những thực hành qua đó chúng ta đáp lại Lời Chúa, vốn chỉ cho ta thấy những lộ trình của sứ vụ” (79). Phương pháp ở đây là “cầu nguyện và đối thoại huynh đệ”, hay còn gọi là “đối thoại trong Thánh Thần”.

Đây không phải là chuyện đàm phán để thỏa hiệp hay “vận động quần chúng” nhưng là chuyện trong nhà giữa các anh em đều là con cái Chúa cùng nhắc nhau tìm biết ý Cha mình. Ta có thể nguyện kinh Chúa Thánh Thần rồi cùng nhau trao đổi cân nhắc để có một thỏa thuận hứa hẹn kết quả. Tốt lắm, nhưng nếu chỉ nhằm tìm một giải đáp nhân loại, chưa nhằm tìm ý Chúa thì chưa phải là đối thoại trong Thánh Thần.

Đã nhấn mạnh “tự do nội tâm”, sự “tin tưởng nhau” (x. 80, 97), “chân tình” (86), thì các bước phân định (x. 84) không nhằm tìm trung bình cộng hay đa số quá bán, nhưng là để cùng lắng nghe Chúa Thánh Thần đang nói trong anh em mình. Đối thoại trong Thánh Thần là một cách cùng nhau đi tìm ý Chúa, nhờ cùng chia sẻ với nhau những cảm nhận, những ánh sáng mình nhận được từ Chúa Thánh Thần.

Chúa Cứu Thế không nhắm đến việc giúp ta có được sự bình an tạm bợ (Mt 10,34; Ga 14,27). Vì thế, Ngài đòi hỏi chúng ta chọn lựa triệt để (x. Mt 6,24; Mt 10,37; Kh 3,16).

Đã gọi là linh đạo hiệp hành, chắc hẳn đây là bước đường khả thi cho các đơn vị Giáo hội, lớn cũng như nhỏ. Kinh thánh cho thấy các gia đình nhỏ của con cái Chúa là từng làm được, như có thể thấy nơi những đối thoại giữa Abraham và Sara (x. St 21,2), giữa Abraham và Isaac (x. St 22,8), giữa Giacóp và Esau (x. St 33,1-11), giữa Giuse và các anh (x. St 50,15-21), giữa bố mẹ của Samson (Tl 13,1-25), bố mẹ của Samuel (x. 1Sm 1,8), giữa Ghíptác và con gái (x. Tl 11,35-38)… Kinh thánh cũng cho thấy trên bình diện cộng đoàn, Dân Chúa cũng đã nghe cả các thiếu niên như Samuel (x. 1Sm 3,18), Đavít (x. 1Sm 17,34-39), Đaniel (x. Đn 13,4-50)… Thánh Phêrô và các Tông đồ khác đã nhận thấy Chúa nói qua người anh em đến muộn là Phaolô (x. Cv 15,1-12) …

Vâng, cả trên bình diện rộng lớn, “cơ cấu của tiến trình đưa ra quyết định” (x. 87-102) cũng như “tính hiệp hành giữa các tổ chức tham gia” (x. 103-108) là khả thi. Để chứng nghiệm, các vị chủ tọa cộng đoàn có thể làm thử sẽ thấy. Không cần huy động tất cả, chỉ cần chính bản thân thật sự khao khát tìm ý Chúa rồi mời một hai người sẵn lòng cùng kiên nhẫn lắng nghe và trao đổi, rồi lại tiếp tục lắng nghe và trao đổi, ánh sáng sẽ rõ dần cho tới khi vui mừng tạ ơn vì thấy đã nhận ra được đúng điều Chúa muốn; và vị chủ tọa là người chịu trách nhiệm chính trước Chúa, sẽ quả cảm đi đến quyết định.

Vâng, cả VC và “đối thoại trong Thánh Thần” là chìa khóa vàng cho Giáo hội trong thời buổi này. Xin đừng vội gạt sang một bên. Thoạt mới đọc qua phần III của VC, ta thấy có vẻ phức tạp và lý thuyết, nhưng thật ra, cứ thử rồi sẽ thấy rất khả thi. Chỉ cần chính vị chủ tọa cộng đoàn thật lòng muốn tìm kiếm ý Chúa để lo cho ích chung của Dân Chúa chứ không nhắm tìm điều gì khác.

Mỗi vấn đề nan giải của cộng đoàn đều đặt ta trước hai chọn lựa: hoặc dừng lại hoặc tiến bước. Lắm lúc thật khó nhưng cứ quả cảm đến với Chúa Thánh Thần, sẽ có ánh sáng. Khi tự tìm lấy giải đáp nhân loại tốt nhất, ta hoàn toàn chủ động, ta làm chủ ngay từ đầu với các kế hoạch nhân loại và rồi sẽ cùng với chúng suy tàn theo cát bụi. Còn khi tìm ý Chúa, ta tôn nhận Chúa là Đấng duy nhất làm chủ chương trình, ta chỉ thừa hành các chỉ thị của Ngài, nhưng rồi đến phút chót, ta sẽ được tham dự đích đáng vào quyền làm chủ thực sự và đầy vinh quang trong thế giới mới trường tồn (x. Lc 22,28-30).

Cũng tại phần III của VC, THĐ đề nghị một công thức để thực hiện phân định với nhóm.

3b. PHÂN ĐỊNH NHƯ CON CÁI CHÚA

Qua hai năm “thỉnh ý hiệp hành”, ta đã quen với ba ý niệm: gặp gỡ, lắng nghe và phân định. Khi ta khao khát, việc gặp gỡ và lắng nghe tạo điều kiện thuận lợi cho ta nhận rõ ý Chúa. Vua Salomon đã xin một tấm lòng biết lắng nghe (x. 1V 3,9). Người tôi trung của Chúa cứ sáng sáng lại được Chúa thức tỉnh đôi tai để lắng nghe như một người môn đệ (x. Is 50,4). Dân Chúa cũng mỗi ngày thức dậy trong tiếng gọi “Israel, hãy nghe đây!” (Đnl 6,4).

Điểm mới VC đem lại cho kinh nghiệm phân định trong Giáo hội là trân trọng cảm thức đức tin và tinh thần đồng trách nhiệm của Dân Chúa, theo đó, ta cần biết lắng nghe nhau, chia sẻ chân thành và minh bạch để cùng nhau lắng nghe Chúa Thánh Thần và sống trung thực trước nhan Thiên Chúa.

Để có được lòng tha thiết muốn nghe, ta cần xác tín việc đang làm là việc Chúa giao phó. Do đó, ta cần biết sẵn lòng buông bỏ những tha thiết chủ quan. Trong trải nghiệm Cát Minh, có thuật ngữ “đêm giác quan”, có nghĩa là đóng các giác quan lại, khóa mắt không nhìn, khóa tai không nghe (Lên núi Cát Minh, quyển 1). Có thể tự mình đóng các giác quan mà cũng có thể là do Chúa khóa các giác quan bên ngoài để mở rộng cho ta khả năng lắng nghe tiếng Chúa. Đây là điều ngay từ thuở đầu, Thánh Phaolô đã căn dặn Timôthêô: “tâm hồn trong sạch, lương tâm ngay thẳng và đức tin không giả hình” (1Tm 1,5; xt. 2Tm 1,5).

Ngày nay, giữa thời văn hóa nghe nhìn, việc tự khóa các giác quan, tắt màn hình, khóa điện thoại, rất cần thiết và cũng đầy thách đố. Thế nhưng khi biết tự chế, ta sẽ thấy nó đem lại bình an nội tâm sâu xa. Nó sẽ giúp gia tăng lòng khao khát lắng nghe, và khi ta đã thật lòng muốn nghe người khác góp ý, dù họ không nói gì, chính Chúa sẽ ban ơn phân định, soi rõ cho ta biết phải theo hướng nào.[6] Những ghi nhận của Thánh Têrêsa Avila tại Mức ở lại Thứ Ba cho thấy tầm quan trọng của sự “ra khỏi mình” để nhìn mọi sự theo cái nhìn của Chúa, mà lắm khi rất trùng hợp với góc nhìn của người bên cạnh.

Khi đã thật lòng chiều theo ý Chúa, người tín hữu bắt đầu được ơn Chúa cuốn hút. Việc phân định đòi họ phải tỉnh thức, bởi lẽ, do phận người yếu đuối, dù đã từng được Chúa đưa vào những Mức ở lại bên trong, lắm khi ta vẫn bất chợt vướng kẹt vào chủ quan, tự quay về những Mức ở lại phía bên ngoài lúc nào không hay. Ý thức tình trạng ấy, ta sẽ tiến bước trong khiêm nhường, luôn kiểm tra lại bước chân mình.

Phần IV của VC của THĐ XVI cũng gợi cho ta ước mơ về mẻ lưới mới của Giáo hội. Hoàn cảnh mới, khó khăn mới nhưng ta lại linh cảm rằng chỉ cần đến với Chúa Thánh Thần để Ngài dạy ta sống hiệp hành, sống yêu thương và hiệp nhất, cơn mưa ân sủng sẽ ập xuống khắp cả vũ hoàn.

Như thế, ngay hôm nay, từ mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn nhỏ của các con cái Chúa, ta cần vâng theo ơn sủng Chúa Thánh Thần để trở nên men yêu thương hiệp nhất cho nhóm nhỏ và cho vùng miền của mình, Nước Trời sẽ dậy men đều khắp trên toàn thế giới, trước hết là phẩm chất, rồi cả số lượng. Hãy sống hiệp hành, sống yêu thương hiệp nhất, rồi chúng ta sẽ không còn phải vất vả kéo từng gàu nước hiếm nhưng cơn mưa sẽ đến khắp đất trời mênh mông.

3c. TIN CẬY MẾN – DẶM ĐƯỜNG RIÊNG CỦA CON CÁI CHÚA

Sang giai đoạn thứ hai tức là bốn vòng phía trong, hướng đi của ta vượt khỏi sự hoàn thiện luân lý và tập trung vào sự gặp gỡ và hiệp nhất với Thiên Chúa. Đây là giai đoạn đặc thù của mạc khải Kinh thánh, được Thiên Chúa ưu ái dành riêng cho dân tộc Ngài chọn, ở thời Cựu ước xưa và ở thời Tân ước hiện nay. Đây là giai đoạn vượt ngoài tầm suy luận tự nhiên của con người. Ngay cả khi đã nhờ mạc khải mà biết được, người phàm không thể lên chương trình tập luyện để đạt tới. Con người có thể khao khát nhưng chỉ một mình Thiên Chúa quyết định bước tiến cho mỗi người. Đây là công cuộc của Thiên Chúa, chính Thiên Chúa có sáng kiến, dẫn dắt và đào tạo từng người. Ta cần biết vững tin và phó thác vào Chúa. Chúng ta được mời gọi góp phần bằng sự thuận tình hưởng ứng. Do đó, ta gọi đây là giai đoạn thụ động.

Mức ở lại Thứ Tư (4M) giữa đời hoạt động: Bình an trong bổn phận

Bước chuyển từ sức người đến ơn Chúa, từ dự phóng nhân loại đến đại cuộc của ơn cứu rỗi, hiệu năng sư phạm của sự mở lòng đón nhận, chính là bước đường chung cho mọi mặt cuộc sống của người Kitô hữu, từ việc cầu nguyện, sống cộng đoàn, đổi mới tâm hồn và cả đời sống mục vụ… Sự khôn ngoan của đức phó thác, đức buông bỏ, từ nơi những chuyện nhỏ nơi giây phút hiện tại từng ngày…[7]

Mức ở lại Thứ Năm (5M) giữa đời hoạt động

Thực tập phân định để bỏ ý riêng và chăm lo thực hành ý Chúa sẽ giúp ta cảm nghiệm được Mức ở lại Thứ Năm ngay giữa đời hoạt động và cuộc sống cộng đoàn. Kiên trì thực hành và quan sát, rồi sẽ nhận ra biến chuyển sau đây: Thoạt đầu ta cố gắng đáp lại tiếng Chúa: “Chúa muốn gì, con muốn nấy”. Khó nhưng ta kiên trì cố gắng. Sau một thời gian sẽ bất ngờ nhận thấy “A, lạ quá! Mình muốn gì, Chúa muốn nấy kìa”. Thì ra Chúa đã dần dần uốn nắn ta, giúp ta chỉ còn muốn điều Chúa muốn.

Thuận phục hơn

Khi ta được tiến vào một Mức ở lại khác sâu hơn trước, thì không có nghĩa là ta đã tài giỏi hơn, có trình độ hơn, có công phúc hơn hay thánh thiện hơn… Có lẽ chỉ có thể nói: Đã thuận phục hơn, vâng theo ý Chúa hơn và gần với sự hiệp nhất toàn diện với Chúa hơn. Điều cần quan tâm là ta đã bước vào một tình huống mới trong quan hệ với Chúa, cần tỉnh táo để nhận ra những gợi ý của Chúa và đáp lại cách quảng đại.

Ở phần II, VC đã bàn về các tương quan trong nội bộ một cộng đồng, giữa các tín hữu với nhau, giữa người trưởng cộng đoàn với các cộng sự viên và những thành viên khác. Phần IV, tựa đề: Một mẻ lưới đầy – hoán cải về các mối liên kết (109-139), bàn về các mối liên kết, tức là sự kết nối giữa một cộng đoàn với những cộng đoàn khác, trong hoàn cảnh xã hội hiện nay. Một khi ta đã lắng nghe Chúa Thánh Thần (phần III), những hoàn cảnh mới sẽ là chỗ tương ứng về chân trời hứa hẹn, giữa “mẻ lưới đầy” và “cơn mưa tầm tã”:

- Hoàn cảnh di dân và đô thị hoá khiến ranh giới giáo xứ và giáo phận bị lu mờ (x. 110-112; 114-117).

- Hoàn cảnh văn hóa kỹ thuật số (x. 113).

- Các hội dòng, những nỗ lực liên giáo phận đang dấn thân cho những nhu cầu mục vụ đa dạng (x. 118-123).

- Những mối dây hiệp nhất (x. 124-129).

Giữa những hoàn cảnh ấy, muốn cho Tin mừng có sức thuyết phục cao, cần làm sao để người ngoài nhìn thấy được gương sáng về đức tin, đức cậy và đức mến của các Kitô hữu. Họ có thể nhìn thấy ở đâu? Nơi các gia đình tín hữu cùng xóm, nơi các linh mục, tu sĩ và chủng sinh… Riêng về phía đối ngoại, cộng đoàn chủ nhà cần thấy rõ mình còn giới hạn, cần đến sự trợ giúp của các đơn vị bạn.

Trong những thế kỷ đầu, cái chết vì đức tin của các tín hữu đúng là gương sáng gây sửng sốt và, nhờ đó, máu các thánh tử đạo không ngừng nẩy sinh người có đạo. Ngày nay, giữa xã hội tiêu thụ, giữa thời cực thịnh của ánh sáng văn minh vật chất nhưng đầy dẫy bất công và vô vọng, con người ngày nay cần thấy được chứng tích sống về đức nghèo khó. Chính khi các con cái Chúa dám lội ngược dòng đời, dám xây dựng hiệp nhất và yêu thương bằng tinh thần buông bỏ, lời chứng hiếm hoi ấy sẽ khiến nhiều người suy nghĩ và được ơn thật lòng tin Chúa.

Giáo hội Hiệp hành đang chờ được nhìn thấy các thành phần Dân Chúa đua nhau phát huy những sáng kiến để làm chứng cách hồn nhiên và sống động về sự tin Chúa, trông cậy Chúa và yêu mến Chúa.

4. CÁC MỤC TỬ TRÊN ĐƯỜNG TIN, CẬY, MẾN

Tại phần IV của VC, bàn đến hoán cải về các mối liên kết, hiệp hành có thể xem như sự hợp tác sâu rộng giữa những dạng thức và cấp độ khác nhau của Giáo hội.

Trên kia, ta đã thấy trong việc phân định với nhóm, trách nhiệm luôn đè nặng trên vai các vị chủ tịch cộng đoàn, cách riêng là trong việc xây dựng tình yêu thương và hiệp nhất cho giáo xứ hoặc giáo phận. Vị chủ tịch cộng đoàn lắm khi lâm vào cảnh cô đơn, không được thấu hiểu, có thể nói là chìm trong những thử thách của Mức ở lại Thứ Sáu. Thiết nghĩ trong hoàn cảnh ấy, các vị nên nhớ tới Đức Giáo hoàng để thấy mình được chia sẻ.

 Tôi vào chủng viện năm lớp 6, đã 13 tuổi cho nên đã thấy gần gũi với người Cha chung, lúc ấy là Đức Gioan XXIII. Trước đó là Đức Piô XII. Tôi rất xúc động vì được sống dưới triều những vị Giáo hoàng rất thánh thiện, luôn đứng vững trước những thử thách của Mức ở lại Thứ Sáu. Cụ thể, 10 đoạn cuối phần IV nhắc ta điều đó:

- Ngài là Giám mục Rôma, xóa mình để phục vụ sự hiệp nhất của Giáo hội toàn cầu.

- Ngài chia sẻ quyền hạn với Thượng Hội đồng Giám mục và với các giáo hội anh em.

- Ngài nhường bước cho anh em như Đức Kitô cúi xuống rửa chân cho các môn đệ, hiến mình làm tấm bánh bẻ ra cho họ.

- Ngài lo nỗi lo của Giáo hội toàn cầu, trong liên đới với toàn thể nhân loại mà lắm lúc có thể cô đơn như Đức Kitô bị bỏ rơi trên thập giá (x. 130-139).

Mức ở lại Thứ Sáu (6M) hay Đêm đức tin giữa đời hoạt động:

Tại số 46, VC cho thấy ngày nay Giáo hội không còn được nhìn như một biểu tượng rực rỡ như trước kia nhưng xuất hiện như một bệnh viện đang lo chữa lành biết bao vết thương cho những người trong đó. Giáo hội được đưa vào tình cảnh được Thánh Inhaxiô gọi là “bậc khiêm nhường thứ ba”, cùng chịu sỉ nhục với Chúa Kitô.[8]

Tại Mức ở lại Thứ Sáu, bằng một ngôn ngữ linh động, Thánh Têrêsa Avila diễn tả dịu dàng để các nữ tu của bà dễ đón nhận những thử thách quyết liệt mà Thánh Gioan Thánh Giá gọi là “đêm tối của linh hồn”hay “đêm tối đức tin”. Đây là một giai đoạn thanh luyện cần thiết, Thiên Chúa dùng để tước bỏ những niềm an ủi và bám víu tâm linh, khiến linh hồn cảm thấy trống rỗng và đau khổ sâu sắc để được chứng nhận rằng nó chẳng tha thiết gì với những ơn an ủi mà chỉ còn yêu Chúa vì Chúa. Đây là một trải nghiệm về ánh sáng tâm linh mà lại cảm thấy như tăm tối vì vượt quá khả năng của con người. Nó là một quá trình biến đổi, Thiên Chúa đến chiếm hữu linh hồn và thiêu đốt những tạp chất để lấp đầy linh hồn bằng tình yêu thuần khiết. Thử thách này là ơn Chúa dành cho những linh hồn yêu mến Ngài để họ được nên giống Chúa Kitô trong khổ nạn để rồi sẽ chung phần vinh quang phục sinh với Ngài,

Đòn bẩy giúp ta nhảy vọt tại Mức ở lại Thứ Ba là sự bất lực. Đòn bẩy của cuộc vượt qua tại Mức ở lại Thứ Sáu là sự cô đơn và bị bỏ rơi. Trong các tài liệu hướng dẫn những người sắp bước vào cuộc sống gia đình, người ta nói tới ba cuộc khủng hoảng trong đời hôn nhân. Thật ra, còn một khủng hoảng thứ tư bị bỏ quên, khủng hoảng cuối đời có thể gọi là khủng hoảng vỏ chanh. Trong tương quan với người bạn đời cũng như với con cháu, các cụ già có thể rơi vào buồn tủi khi thấy mình bị bỏ rơi, không còn được quan tâm, chẳng khác nào múi chanh bị vắt hết nước rồi bị ném vào sọt rác, thế nhưng rồi các cụ lại cũng có thể nhờ đó mà nhận ra rằng chính Thiên Chúa đang tạo điều kiện để các cụ quay về tìm an ủi nơi Chúa.[9]

Trong cuộc hôn nhân với Đức Kitô, Giáo hội vào thời cuối cùng cũng rơi vào thử thách quyết liệt để cùng xóa mình với Chúa Kitô và thốt lên: “Xin đừng theo ý con, hãy theo ý Cha”.

Quan sát, ta sẽ gặp được những đêm Ghetsêmani của Thầy Chí Thánh giữa đời hoạt động của Ngài, cụ thể là đọc được cảm nghiệm Ghetsêmani của Thầy ngay cả khi nhóm người Hy Lạp đến tìm gặp: “Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này” (Ga 12,27).

Kinh nghiệm những nhịp tim và hơi thở của chị thánh Têrêsa Hài đồng sẽ giúp ta nhận ra Mức ở lại Thứ Sáu ngay giữa cuộc sống cộng đoàn, giữa đời phục vụ và đời mục vụ.[10]

Xin nêu một số ví dụ về Mức ở lại Thứ Sáu nơi cuộc sống hoạt động để dễ thấy vấn đề hơn:

- Trong Lc 10,38-42, Marta có lẽ đã giật mình với câu trả lời của Chúa. Chị đang ở Mức Thứ Sáu, khá cô đơn, hầu như không được thông cảm, có vẻ bị bạc đãi… Thế nhưng chị vẫn bình an, có lẽ chị đã mỉm cười quay lại với công việc bếp núc của chị.

- Tuổi già của Abraham, Isaac, Giacóp và Môsê đều là những Mức thứ Sáu giữa đời hoạt động.

5. ĐÀO TẠO TINH THẦN TIN, CẬY, MẾN

Phần V của VC đề cập tới việc đào tạo một dân tộc gồm những môn đệ truyền giáo. Ba nhân đức Tin, Cậy, Mến là riêng của các con cái Chúa thì nét chính trong việc đào tạo này không gì khác hơn là vun trồng ba nhân đức ấy. Thiết tưởng sự trì trệ hiện nay phần lớn là do các giáo trình đào tạo hiện nay thường khởi đi từ suy tư lý luận và bận tâm tới hoàn thiện luân lý hơn là sống thân mật với Ba Ngôi Thiên Chúa. Ta cần thường xuyên nhắc nhở để mọi người tha thiết xin ơn tin, cậy, mến mỗi ngày.

Hẳn đã đến lúc cần điều chỉnh lại các giáo trình đào tạo: giáo lý dự tòng, giáo lý hôn nhân, các lớp giáo lý phổ thông và cả chương trình cho các dòng tu và chủng viện… Tất cả đều cần nhấn mạnh tới ba nhân đức hướng thần cùng khả năng phân định và kiên trì sống theo ý Chúa.

Trong chuỗi Mân Côi hiện nay, có ơn xin về nhiều nhân đức tự nhiên nhưng còn thiếu về ba nhân đức hướng thần. Nếu các chục thứ hai, thứ tư và thứ năm của cụm mầu nhiệm sự sáng được dành để xin ơn đức tin, đức cậy và đức mến, thì thật quý.

A. Những giáo dân trưởng thành giữa lòng đời

Nhiều linh mục xử sự như thể giáo dân bao giờ cũng chập chững ở bước đầu của đường nên thánh, quên rằng bản thân mình đã thừa hưởng đức tin vững chắc của các thế hệ cha ông. Phần đông giáo dân quanh ta đã tiến khá xa. Dù cuộc sống tất bật, họ đang bình an với bổn phận (cảnh số 4), hòa theo ý Chúa (cảnh số 5). Nếu được hướng dẫn để biết tạ ơn trong nghịch cảnh, khi bị ốm đau, thất bại hoặc bất cứ thử thách nào khác, họ sẽ được Chúa đưa vào cảnh số 6. Cần giúp họ thấy những đỉnh cao thánh thiện đang chờ đợi ngay giữa cuộc sống thường ngày của công ăn việc làm, nuôi dạy con cái, bệnh tật, già yếu, nhất là nơi sứ mạng xây dựng hiệp nhất và yêu thương. Dân Chúa cần được soi sáng, ủi an và nâng đỡ để quả cảm buông mình theo ơn thanh luyện của Chúa và sinh hoa kết trái cho đại cuộc Nước Trời.

Ngay giữa đời thường vẫn có những mức ở lại với Chúa tương tự như trong cuộc sống cầu nguyện. Ta đã không muốn dừng lại ở 3M thì khi tiến xa thêm, ở 4M hay 5M, cũng đừng vội dừng lại nhưng hãy đợi Chúa đưa qua 6M. Dù trong đời cầu nguyện, cuộc sống cộng đoàn hay hoạt động tông đồ, Mức ở lại Thứ Sáu đều vừa thấm ý đau thương vừa là giá cần trả để được tiến vào hiệp nhất. Những thử thách lớn nhỏ này đến với mọi tín hữu như những hạt giống đa dạng sẽ nảy sinh đủ thứ hoa xinh trái tốt muôn màu muôn vẻ.

Xin nêu thử vài trường hợp.

Nhà thơ Hàn Mạc Tử

Nhà thơ này rất trẻ, chết lúc mới 28 tuổi. Năm 16 tuổi đã có thơ đăng báo, năm 23 tuổi, có dấu hiệu bị bệnh phong, chứng bệnh mà hồi ấy bị coi là nan y bất trị, anh hoảng hốt âu lo, tìm mọi cách chữa chạy, chưa thấy kết quả gì. Lúc ấy thơ anh vẫn còn theo khuôn khổ cũ. Bỗng dưng năm 25 tuổi, anh bỏ những nhà thơ khác lại phía sau, cả thơ đời lẫn thơ đạo của anh bay vượt lên một cõi khác. Chẳng khác nào anh đang kéo nước thì buông gàu bỏ chạy vì trời mưa. Có đột biến trong thơ chính là vì trong lòng anh đã có đột biến. Anh vẫn tiếp tục các liệu pháp chữa trị nhưng không còn âu lo. Anh đã phó thác tất cả cho Chúa, vui lòng đón nhận bạo bệnh cách bình thản như món quà của ý Chúa. Thế là anh được bình an, gặp được ánh sáng giữa đêm tối. Anh nhận được ân sủng của Mức ở lại Thứ Sáu, tại ngưỡng cửa của Mức ở lại Thứ Bảy. [11]

Một cộng đoàn

Giáo xứ Suối Ré ở Phú Yên, nhỏ tí teo, chỉ có 76 gia đình, 254 giáo dân. Cuối tháng 11/2025 họ bị chìm trong lũ lụt, nhiều gia đình lút đến nóc nhà, cả nhà thờ và nhà xứ cũng đầy nước. Thế nhưng chỉ ba tuần sau, mọi người đã xúm lại xếp dọn, lau chùi cả nhà thờ và nhà xứ và trang hoàng thật đẹp đón cha Tổng đại diện về giảng tĩnh tâm dọn mình mừng lễ Đức Mẹ, kỷ niệm 25 xây dựng nhà thờ. Đêm diễn nguyện mỹ thuật mà rất trang nghiêm sốt sắng, mọi người lắng im trong tâm tình cầu nguyện, ngợi khen và cảm tạ Chúa. Đúng là cả giáo xứ đã được Chúa đưa vào Mức ở lại Thứ Sáu… Thật tuyệt vời.

Đồng hành qua tin nhắn

Chiều 23/12 vừa qua, tôi nhận được một lá thư cầu cứu dài 2 trang A4. Chị Anna gặp bế tắc nhiều mặt tại sở làm và không được sự đồng cảm của chồng.

Lá thư cho thấy chị đang ở tại Mức ở lại Thứ Sáu. Tôi nhắn lại: “Sáng dậy đi làm, chị hãy dâng lời tạ ơn Chúa về tất cả những điều trái ý sẽ gặp trong ngày, xác tín rằng tất cả đều là những thước đường và là những nhịp cầu đưa chị tiến vào thế giới mới, ta đang nhích từng thước từng thước như kẹt xe giữa Sài Gòn. Hãy mỉm cười cảm thông và khích lệ những người cùng đang bị kẹt xe quanh ta…”

Thư trả lời của tôi dài gấp 3 mấy câu trên đây. Sáng 25/12, tôi nhận được tin nhắn: “Dạ, con cảm ơn cha. Hôm qua con rất bình an vì Chúa ở với con và an ủi con qua cha. Hôm qua Chúa cũng đã làm việc với con nên gần như con đã làm gần hết việc và có thể về sớm hơn mọi ngày để tham dự Thánh Lễ mừng Chúa Giáng sinh. Hiện tại con nhận được ơn bình an rất lớn và rất lạ. Con cảm ơn cha. Con mừng lễ Giáng sinh đến cha.”

B. Thực nghiệm

Trong khóa họp thứ hai của THĐ XVI, một số phát biểu đã dùng từ “phòng thí nghiệm”, ngụ ý nói việc hiểu linh đạo hiệp hành và từng bước đưa vào cuộc sống của Giáo hội, cần đi qua chứng nghiệm bản thân. Kinh nghiệm ở đây không theo kiểu những phòng thí nghiệm sinh học, cấy mô trong ống nghiệm trước khi trồng cấy đại trà. Việc đào tạo các tông đồ hiệp hành không thể làm kiểu sản xuất hàng loạt, ai cũng như ai… Chỉ mong sao cách làm việc của THĐ có thể truyền cảm hứng để mọi đơn vị Giáo hội, từ Giáo tỉnh, Giáo phận, Giáo xứ đến các Gia đình rồi từng cá nhân đều dấn thân thực hiện theo cả hai chiều: Rút kinh nghiệm từ quy mô lớn để áp dụng vào quy mô nhỏ, lo cho từng đơn vị nhỏ đạt chuẩn để rồi lại xây đắp dần lên. Với VC, ta lại gieo trồng tinh thần hiệp hành từ các gia đình và các nhóm nhỏ tự nhiên, trước khi chia sẻ kinh nghiệm với người khác trong giáo xứ. Chẳng riêng THĐ, chính Chúa Giêsu đã nêu lên những hình ảnh tựa như ống nghiệm: như hạt men, như ngọn nến đêm Vọng Phục sinh… Bắt đầu từ chính mình – rồi cả thế giới đều sáng lên…

Hiện nay, bản PDF Văn kiện Chung kết đã phát hành miễn phí trên trang WHĐ. Mong sao tất cả các trang mạng Giáo phận và các đoàn thể đều tích cực giới thiệu đến độc giả. Mong sao khắp nơi đều tổ chức học hỏi về VC, và nếu được, tổ chức giải sáng tác văn thơ cấp giáo phận và cả toàn quốc về chủ đề hiệp hành.

C. Quyển “7 bước hiệp hành của bạn trẻ”

Để đáp ứng nhu cầu đào tạo bước đầu ở khắp nơi, nhóm Tủ sách Nước Mặn đã biên soạn một tài liệu gợi hứng, như một công cụ hỗ trợ, gọi là “7 BƯỚC HIỆP HÀNH CỦA BẠN TRẺ” nhằm trang bị linh đạo hiệp hành cho các bạn trẻ vào đời, giúp họ xây dựng những cặp đôi vừa là bạn đời vừa là bạn đạo, hoặc giúp họ dấn thân vào đời thánh hiến như những tông đồ hiệp hành. Trong bảy bước, có hai bước học về phân định bản thân và phân định với nhóm, mong giúp các Kitô hữu trẻ có được một vốn quý cần thiết, mau mắn nhận ra và thực hiện ý Chúa giữa đời thường để mọi mẻ lưới lớn nhỏ đều đầy cá.

Lm. Inhaxiô Trần Ngà, giáo phận Nha Trang, tác giả quyển “Khám phá một nguồn vui” có ghi nhận như sau: “Ngay bản thân con, dù đã cao niên, con vẫn thấy đây là sách đáng đọc vì giúp con nhớ lại những nét căn bản trong đường hướng hiệp hành mà Giáo hội đã đề ra, sau quá trình thảo luận suốt 3 năm liền. Nếu không đọc cuốn “7 bước hiệp hành” nầy, thành quả tốt đẹp của Thượng hội đồng về Hiệp hành sẽ chẳng được lưu vào bộ nhớ của con. Như thế thì thật là uổng phí! Ước mong của con là tập sách nầy sẽ được các bạn trẻ hoan hỉ đón nhận và áp dụng trong cuộc đời để cùng nhau tham gia vào sứ vụ loan báo Tin mừng cách hiệu quả hơn.”

THAY LỜI KẾT: MỘT GIẢI PHÁP ĐƯỜNG DÀI

Một nhà truyền giáo kể với tôi, nhiều bạn trẻ nghiện ngập tâm sự với ông rằng họ đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn chứng nào tật ấy. Ông đã giúp họ đọc Kinh thánh và cầu nguyện với Chúa Giêsu rồi đa số họ đều thắng được bản thân. Một bạn trẻ nói với ông:

- Bây giờ em tin Chúa rồi.

- Tại sao?

- Em thấy chỉ có Chúa nào làm cho bọn em bỏ được rượu bia và thuốc lá, mới là Chúa thật.

Có thể chính chúng ta cũng đã từng trải nghiệm như thế. Sau những thời gian dài chiến đấu trầy vi tróc vảy và cũng đã tha thiết cầu nguyện mà vẫn bó tay trước một tật xấu, đành rơi lệ thú nhận với Chúa sự bất lực của mình, thế rồi ít lâu sau bỗng nhận ra mình đã quên tật xấu ấy từ lúc nào rồi không hay. Chúa tống khứ nó sao mà dễ dàng quá! Vâng, trên đồ hình bảy vòng dẫn vào nội tâm, đang khi quanh quẩn với ba vòng ngoài, ta thấy không đành dừng lại với sự hoàn thiện luân lý nhưng chẳng biết làm sao hơn, chỉ biết phó thác cho Chúa, Chúa liền cuốn hút ta vào với Ngài.

Khi bạn trẻ bắt đầu ý thức trách nhiệm về đời mình, nếu ta biết đưa họ đến với Chúa Giêsu để nếm cảm một chút quyền năng vô tận của Chúa, họ sẽ trở thành những tông đồ hiệp hành, quyết đi đến tận cuối chân trời. Đó là lý do tại sao chúng tôi đã đầu tư thời giờ và tâm huyết cho quyển 7 bước hiệp hành của bạn trẻ, và viết đi viết lại bài chia sẻ này. Vâng, hướng đi của VC thật tuyệt vời nhưng không dễ gì những người đang chuyên tâm vào những công việc “mục vụ” quen thuộc, có thể thay đổi cái nhìn và cách ứng xử trong một sớm một chiều. Thiết tưởng ta cần hướng đến một giải pháp đường dài, tập trung giúp các bạn trẻ hiểu và yêu mến tinh thần hiệp hành. Hy vọng 15, 20 năm nữa, khi cờ đến tay, thế hệ hiệp hành sẽ phất cờ thật chính xác và đưa Giáo hội tiến vào một tương lai mới, với vụ mùa không hề dựa vào sức riêng nhưng chỉ dựa vào ơn Chúa. Có lẽ chính vì thế mà VC không ngừng lặp đi lặp lại hai tiếng “đào tạo”. Ta cũng có quyền hy vọng rằng chính nỗi băn khoăn đào tạo tinh thần hiệp hành cho thế hệ trẻ sẽ tạo hiệu ứng “boomerang” để mọi giới hữu trách trong Giáo hội tự kiểm điểm lại “nồng độ hiệp hành” của chính mình và linh đạo hiệp hành sẽ sớm dậy men và tỏa sáng.

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 152 (tháng 3 & 4 năm 2026)

-------------

[1] Nội dung này tách từ mục “Linh đạo hiệp hành” (43-48) ở trên.

[2] Trong bài, nội dung này sẽ là 3B. Mục 3A và 3C đọc kèm với Lâu đài nội tâm.

[3] Buông bỏ là cửa dẫn vào phân định. Càng buông bỏ, ta càng tiến sâu vào thinh lặng nội tâm và càng dễ nhận rõ được điều Chúa muốn. x. Lm. Trăng Thập Tự, Vững bước trên đường lành, học thinh lặng nội tâm và phân định theo kinh Lạy Cha. Tủ sách Nước Mặn số 124, Nxb Đồng Nai, 2024.

[4] Tiểu sử tự thuật, chương 18.

[5] Đạt tới Mức ở lại Thứ Ba là đã tiến xa trên đường hoàn thiện luân lý, ta dễ rơi vào tự hào, tự tin vào khả năng riêng. Thật khó mà tự phủ nhận kinh nghiệm, quan điểm và dự phóng riêng của chính mình; thật khó mà giã từ sự khôn ngoan thế gian để đón nhận lấy sự khôn ngoan thập giá (1 Cr 1,18-25). Những người chưa được ơn đức tin, chưa biết có Chúa dễ hài lòng với đỉnh cao hoàn thiện luân lý và không đặt vấn đề đi xa hơn. Người Việt thường nói: An phận thủ thường. Đó là một thái độ khiêm nhường đáng quý và được chúc phúc.

Các Kitô hữu đã biết có Chúa, lẽ ra sẽ mau mắn khước từ ý riêng để nhường chỗ cho ý Chúa. Thế nhưng các bài Tin mừng đọc trong các thánh lễ cuối niên lịch phụng vụ Công giáo, cảnh báo rằng nhiều tín hữu ngày nay dẵm lên vết xe đổ của người Pharisêu thời xưa, chỉ chạy theo thói vụ luật và sự giả hình. Thay vì chân thành đón nhận tiếng lương tâm và tự nguyện thực hiện với nhiệt tình, người tín hữu luôn có nguy cơ chu toàn lề luật cách miễn cưỡng và trở thành giả dối trước nhan thánh Chúa. “Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi!Nhưng vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta.Ngươi nói: “Tôi giàu có, tôi đã làm giàu, tôi chẳng thiếu thốn chi”; nhưng ngươi không biết rằng ngươi là kẻ khốn nạn, đáng thương, nghèo khổ, đui mù và trần truồng” (Kh 3,15-17).

[6] Sự khao khát lắng nghe này tương ứng với sự “bình tâm” trong Linh thao của Thánh I Nhã. Xin lấy việc viết bài này làm ví dụ. Sau khi tạm xong bản thảo, tôi gửi xin 4 vị góp ý. Có hai vị đã đọc và mỗi vị hồi đáp được hơn một dòng, một vị bảo “dài quá”, vị kia bảo “rối rắm quá”. Qua hôm sau, tôi vui mừng thấy rõ, tự cắt bỏ được hơn 1/10 nội dung, đánh số lại các tựa đề với cách diễn tả mới và điều chỉnh một số đoạn, giúp độc giả dễ nắm bắt hơn. Xin cảm tạ những vị đã dành chút thời giờ đọc và góp ý.

[7] Đức Thánh Cha Phanxicô thường nhắc ta buông bỏ từ điều nhỏ. Như, trong giờ ăn nếu ta biết tắt TV và điện thoại, bầu khí hạnh phúc gia đình sẽ tăng nhanh.

[8] Thánh Inhaxiô, Linh thao, số 167.

[9] Trăng Thập Tự, Đường tình Chúa đưa ta đi, Nxb Đồng Nai, 2023, trang 141-146.

[10] Xem phân tích của cha Conrad de Meester trong “Hai bàn tay trắng - Sứ điệp thánh Têrêxa thành Lisieux”, bản dịch Thái Văn Hiến, Nxb Đồng Nai, Nhà sách Đức Bà Hòa Bình, 2019.

[11] Trăng Thập Tự, Thơ đạo của Hàn Mạc Tử và một kinh nghiệm được biến đổi, Có một vườn thơ đạo, tập I, Thi sĩ của Thánh giá, Nxb Phương Đông, 2012, trang 357-388.

 

Nguồn: hdgmvietnam.com