Ý Niệm Chết trong Thánh Kinh và Thần Học - Phần II (tiếp theo và hết)

24/11/2017
1336

III. Cái hiểu thần học về mầu nhiệm sự chết

Từ việc mô tả trên đây về sự chết như một hậu quả của tội lỗi và như một biến cố của cứu rỗi nhờ sự chết và sự sống lại của Chúa Kitô, 2 điều sau đây trở nên cực kỳ rõ ràng. Thứ nhất, chết là giây phút quyết định trong đời sống mọi con người; nó kết thúc thời kỳ thử thách, trong đó, con người được tự do xa lìa khỏi Thiên Chúa như là cùng đích hoặc quay về với Người. Sau khi chết, thân phận con người được xác định vĩnh viễn một là được hân hoan hai là bị khốn cùng, tùy họ chết trong Chúa Kitô hay trong Ađam. Thứ hai, yếu tính tự nhiên của sự chết phải sao đó mới đưa ta vào một là ý nghĩa mất mát hai là ý nghĩa cứu rỗi. Trong chính nó, xét về tự nhiên và theo yếu tính, sự chết của thân xác không thể hoặc là mất mát hoặc là cứu rỗi, nếu không, nó sẽ không là điều này đối với một số người và điều khác đối một số người khác. Bởi thế vấn đề đặt ra cho cái hiểu thần học là: tại sao sự chết lại là biến cố quyết định của hiện hữu con người? Trong chính nó, sự chết là chi để nó có thể hoặc là ấn tín trầm luân của người này vì phải xa lìa Thiên Chúa, hoặc là khởi đầu dứt khoát cuộc sống vĩnh cửu vì được kết hợp với Người?

1. Vấn đề Ý Chúa

Một số nhà thần học có ý kiến cho rằng sự chết có tính quyết định đơn giản và duy nhất chỉ vì Thiên Chúa muốn như thế. Rõ ràng là nếu con người, cuối cùng, sẽ ở trong trạng thái trường cửu và không thể thay đổi, thì một giây phút nào đó trong cuộc hiện sinh của họ buộc phải ấn định lúc kết thúc thời gian thử thách và khởi đầu trạng thái được thưởng đời đời hay bị phạt vĩnh viễn. Thời kỳ thử thách không thể kéo dài vô tận, nếu không, trạng thái sau cùng sẽ không bao giờ đến. Họ cho rằng tự trong chính nó, không giây phút nào trong hiện sinh con người tự nhiên và nhất thiết là giây phút quyết định này cả. Nó có thể là giây phút nào đó trong đời sống trưởng thành của người ta, hay là giây phút chết mà cũng có thể là giây phút sau khi chết. Còn việc nó là giờ chết, như mạc khải rõ ràng cho biết, thì chỉ là do sự kiện Thiên Chúa quyết định như thế. Từ giây phút đó trở đi, Thiên Chúa không còn muốn ban cho người tội lỗi ơn thánh để họ quay về với Người nữa, dù Người vẫn có thể ban nếu Người muốn. Từ giây phút đó trở đi, Người không còn để cho người công chính bị cám dỗ nữa và Người không còn nâng đỡ ý chí yếu đuối hay sa phạm của họ nữa, dù, nếu Người muốn, Người vẫn để họ phạm tội và quay lưng lại với Người. Quyết định này của Thiên Chúa không bị coi là chuyên chế vì sự chết, ít nhất, cũng là thời gian thích đáng để kết thúc thời kỳ thử thách. Lúc chết, kiểu thức hiện hữu của con người thay đổi một cách triệt để đến nỗi quả là thích đáng khi coi nó như điểm phân chia giữa cố gắng và thành tựu, giữa lao nhọc và thưởng ban, giữa tội ác và hình phạt. Tuy thế, theo họ, nó cũng có thể khác đi. 

Phê phán thứ nhất. Không thể nói lối giải thích trên chắc chắn sai lầm, dù có nhiều lý do rất mạnh để bác bỏ nó. Trước nhất, bất cứ giải thích nào mà sau cùng và tối hậu dựa vào quyết định tự do của một mình Thiên Chúa đều đáng hoài nghi, ngoại trừ có lý do nào đó giải thích tại sao lại phải như vậy. Việc tạo dựng và việc nâng lên hàng siêu nhiên, chẳng hạn, có lời giải thích tối hậu trong các sắc lệnh hoàn toàn tự do và nhưng không của Thiên Chúa: Người muốn sự việc phải như thế chứ không khác đi, dù trong đức khôn ngoan của Người, Thiên Chúa có thể ra lệnh cách khác. Sự thích đáng và thích hợp của các sắc lệnh này có thể được chứng tỏ, nhưng giải thích cuối cùng vẫn là Thiên Chúa nhất định hành động cách này. Cả trong các trường hợp này, cũng có thể chứng tỏ rằng tại sao đây phải là lời giải thích sau cùng; vì nếu không, phải lệ thuộc sáng thế của Người, Thiên Chúa mới có được sự trọn vẹn và sự sống yếu tính. Nhưng, nơi nào một lý do như thế không hiển nhiên, thì người ta phải tìm một lý do nội tại nào đó để hướng dẫn thánh ý Thiên Chúa trong khôn ngoan và công chính. Thí dụ, ta không thể nói Thiên Chúa thực sự thưởng người lành và phạt người dữ chỉ vì Người quyết định hành động như vậy; ta cũng không thể nói có lẽ và một cách hợp lý, Người rất có thể chọn phạt người lành và thưởng người dữ. Lời giải thích tối hậu cho hành động của Thiên Chúa như trong trường hợp này không phải là quyền tự do của Người, mà là đức khôn ngoan và công lý của Người. Đức khôn ngoan của Người thiết lập ra một trật tự khả niệm nơi sự vật, một trật tự bắt nguồn triệt để từ bản chất sự vật lập thành vũ trụ, còn công lý của Người hành động để duy trì trật tự này.Thần học suy lý tìm cách khám phá bao xa có thể thứ trật tự khả niệm của đức khôn ngoan Thiên Chúa này chứ không chịu bằng lòng với các sắc lệnh chuyên chế mà không cho biết lý do đầy đủ tại sao Người làm vậy. Do đó, lối giải thích thần học nào chỉ biết nói Thiên Chúa muốn cách ấy và đó là tất cả lý do, thường chỉ là một cách thoái thác, không chịu suy tư mà thôi. Trong trường hợp ở đây, không có lý do nào giải thích được tại sao một mình tự do của Thiên Chúa mới là câu trả lời sau cùng cho câu hỏi tại sao sự chết là giờ phút quyết định trong hiện hữu nhân sinh. Do đó, ta phải ráng đi tìm lý do như thế trong chính sự chết. 


Phê phán thứ hai. Hơn nữa, không những việc nại đến tự do của Thiên Chúa đáng hoài nghi, mà còn có lý do vững chắc để coi việc nại đó là sai lầm nữa. Nhiệm cục Cứu Chuộc được mạc khải cho con người trong Sách Thánh như là bắt nguồn từ tình yêu, từ tình yêu vốn là Thiên Chúa. Về Chúa Kitô, Chúa chúng ta, đã có lời chép rằng Người không đập gẫy cọng sậy đã bị dập mà cũng không dập tắt chiếc bấc còn bốc khói. Thành thử thật là không nhất quán chút nào đối với việc mạc khải này về lòng thương xót của Thiên Chúa khi quả quyết rằng Thiên Chúa từ khước ban ơn tha thứ và thống hối cho những người mà từ thẳm sâu trong nội tại họ vẫn còn khả năng tiếp nhận nó. Do đó, quả không thỏa đáng chút nào khi nói rằng những người có tội, lúc chết, bị củng cố trong tính tội lệ của họ, chỉ vì Thiên Chúa không còn muốn tỏ lòng thương xót họ nữa. Chính sự chết mới củng cố người tội lỗi trong việc họ quay lưng khỏi Thiên Chúa một cách mà lòng thương xót của Thiên Chúa không vươn tới họ được nữa, không phải vì Người không sẵn sàng ban ơn thánh cho họ, mà vì Người không thể làm thế, do chính tình huống nội tại. Tình huống nội tại này là gì thì vẫn còn đang được tìm hiểu. Ngoài ra, ngay trong trường hợp người lành, that là kỳ lạ khi Thiên Chúa giới hạn thời kỳ phát triển công phúc của họ vào các năm tháng vắn vỏi của cuộc đời tử sinh này, nếu thực sự không có điều gì án ngữ một cách khách quan sự kéo dài thời kỳ này quá bên kia nấm mồ. Tại sao mức độ kết hợp với Thiên Chúa lại cần phải được xác định một cách dứt khoát ở lúc chết, nếu khả thể khách quan có đó để người ta đạt được một mức độ kết hợp cao hơn nhờ các hoạt động gây công phúc bên kia nấm mồ? Sự khó hiểu này còn có thể đáng nhấn mạnh hơn trong trường hợp cả người có tội lẫn người công chính khi ta nhớ rằng sự chết nhất định sẽ đem đến cho họ một cái nhìn thông suốt hơn đối với tiêu chuẩn đích thực của các giá trị, và nhờ cách này, sự chết làm cho việc thể hiện ý định căn bản của Thiên Chúa được trọn vẹn hơn trong việc thông truyền sự tốt lành và sự sống của Người cho các tạo vật có lý trí. Do đó, chính bản chất của sự chết, chứ không phải quyết định tự do từ bên ngoài của Thiên Chúa, đã làm cho giờ phút này trở thành có tính quyết định một cách bất phản hồi đối với số phận đời đời của mỗi con người. Đây là giáo huấn của Thánh Tôma Aquinô và, sau ngài, của đa số các thần học gia viết về chủ đề này. 

2. Hoàn cảnh sinh hoạt thiêng liêng của con người 

Muốn khám phá ra lý do tại sao tự bản chất của nó, sự chết là biến cố cực kỳ quan yếu trong hiện sinh con người, ta phải phân tích hoàn cảnh sinh hoạt thiêng liêng trong trạng thái hiện nay khi thân xác vẫn còn kết hợp với linh hồn và sau đó, tìm hiểu xem điều gì tiếp diễn khi sự kết hợp này không còn nữa. Sinh hoạt thiêng liêng của con người mà ta tìm hiểu ở đây là sinh hoạt tự do, có chủ tâm. 

Thân xác còn kết hợp với linh hồn. Trong thân phận tử sinh của con người, mọi diễn trình sinh dưỡng (vegetative), cảm thức, và tri thức đều được tích nhập vào đời sống chọn lựa, nhờ đó, họ chọn lựa các mục đích và tự điều hướng họ về các mục đích này. Bao lâu con người còn thực hiện các chọn lựa trong tư cách một hợp thể gồm cả xác lẫn hồn, thì việc họ cam kết long trọng nhất và toàn diện nhất đối với một mục đích vẫn thiếu sự ổn định hoàn hảo ở bên trong. Bất kể họ tốt lành đến đâu, cá tính luân lý của họ cũng không tuyệt đối bất khả hủ hóa. Do đó, ngay trong cam kết đối với điều họ coi là sự thiện cao nhất, sự lựa chọn của họ vẫn có thể được sửa đổi ngay từ bên trong. Việc có thể sửa đổi này xuất phát từ các điều kiện mà vấn đề ấy đã đem vào đời sống chọn lựa của họ. Đời sống tri thức và ý chí của họ trực tiếp lệ thuộc việc nó vận hành đối với đời sống cảm thức, là đời sống liên tục tiếp xúc với thực tại vật chất luôn luôn thay đổi. Việc tiếp xúc này làm trí tưởng tượng của con người chuyển dịch không ngừng từ vật này tới vật nọ. 

Sự chuyển dịch như trên của trí tưởng tượng dẫn tới sự chuyển dịch của chú ý tri thức, và sự chuyển dịch này, đến lượt nó, làm cho sự chuyển dịch về ý hướng của ý chí trở thành khả hữu trong cam kết của con người đối với một mục đích. Sự chuyển dịch trong ý chí này không nên xẩy ra, nhưng nó luôn luôn có thể xẩy ra bao lâu sự cam kết của con người còn lệ thuộc thứ nhận thức luôn luôn thay đổi quan điểm của mình và do đó, có khả năng xem xét các chọn lựa và các cách hành động khác với mục đích mà họ đã cam kết. Bởi thế, bao lâu tinh thần con người còn trực tiếp lệ thuộc các điều kiện thuộc thời gian và không gian trong sinh hoạt của nó, thì họ phải luôn tái duyệt phán đoán của họ xem điều gì mới cực kỳ quan trọng và đâu là cam kết của họ đối với mục đích của đời họ. 

Lúc hồn lìa khỏi xác. Nhưng một khi lìa khỏi vật chất, tinh thần con người không còn lệ thuộc tính dễ thay đổi mà các điều kiện vật chất đã đem vào sinh hoạt của nó. Mục đích đã được tự do ấn định như là cùng đích của nó sẽ mãi mãi là nguyên lý thứ nhất của mọi chọn lựa và sinh hoạt sau đó. Mục đích này đã trở thành sự thiện tối cao đối với linh hồn, một sự thiện được linh hồn cam kết với hết cá tính của nó, với sự thông sáng và chú ý hoàn toàn và trọn vẹn của trí khôn. Việc cam kết với cùng đích này nay không còn có thể sửa đổi từ bên trong được nữa. Cùng đích này nay được ước muốn hoàn toàn chỉ vì một mình nó mà thôi, và bất kể việc gì khác có thể được ước muốn sau đó đều được ước muốn cách nào đó vì cùng đích này mà thôi. Sự chọn lựa này chỉ có thể thay đổi nếu có thể thay đổi quá khứ, làm cho điều đã làm không xẩy ra. Nhưng linh hồn nay đã xác định hướng đi yếu tính và nền tảng cho sinh hoạt của nó từ bên trong và vĩnh viễn rồi. 

3. Giây phút chuyển tiếp

Nhưng vẫn còn một điều phải xem xét nữa, đó là giây phút thực sự chuyển tiếp từ cách hành động này qua cách hành động nọ, tức giây phút chết. Chính ở giây phút lìa khỏi thân xác này, mà linh hồn hết hành động một cách dễ thay đổi từ trong nền tảng và bắt đầu hành động với một ý hướng không thể thay đổi từ bên trong hướng về một cùng đích cụ thể. Nếu người nào đó chết trong Chúa Kitô, thì ý hướng này mãi mãi hướng về Thiên Chúa trong yêu thương, suy phục và hân hoan. Nếu ai đó chết trong khi bác bỏ Chúa Kitô, thì ý hướng này mãi mãi hướng về chính họ trong thù ghét Thiên Chúa và nổi loạn cùng khốn khổ khôn nguôi. Nhưng ý hướng này sau cùng đã xuất hiện ra sao? Vào giờ chết, con người cuối cùng đã cố định ra sao hướng đi của mình nhắm tới cùng đích? 

a. Quan điểm chọn lựa tự do. Các nhà thần học không hoàn toàn đồng ý với nhau về câu trả lời cho câu hỏi trên. Một số dành cho hành vi này, thực hiện lúc hồn lìa khỏi xác, mọi đặc tính của một hành vi hoàn toàn tự do. Sau khi tự lên khuôn một phần cho mình bằng man vàn các chọn lựa nhưng chưa bao giờ hoàn toàn đính kết họ vào một mục đích dứt khoát, con người giờ đây, nhờ mang trọn lịch sử các chọn lựa ấy, nên đã, một cách dứt khoát, không thể vãn hồi, hoàn toàn tự do chọn một là phê chuẩn đời sống họ vốn sống hai là bác bỏ nó. Đây là một hành vi cực kỳ nhân bản, cực kỳ tự do, cuối cùng được chọn lựa giữa Thiên Chúa và sự thiện tạo dựng, chấm dứt thời gian thử thách gian nan và liên kết nó với hậu quả vĩnh viễn của nó. Cần phải nhấn mạnh rằng hành vi này, dù tự do, nhưng không diễn ra mà lại không có liên hệ hay lệ thuộc chi với đời sống trước đó. Theo các nhà thần học này, về lý thuyết, người ta rất có thể sống một đời sống hoàn toàn tội lỗi và vị kỷ nhưng đến lúc chết vẫn có thể suy phục ơn thánh cứu rỗi của Thiên Chúa; nhưng, họ nói thêm, điều này cực kỳ khó có thể xẩy ra. Như thể người ta phải đi dây qua một vực thẳm không đáy để qua bên kia an toàn. Nếu trước đây, họ chưa bao giờ nghiêm túc lưu ý tới việc phải đi dây ra sao (khi luôn có lưới an toàn ở bên dưới), thì không có bao nhiêu hy vọng cố gắng sau cùng này sẽ thành công. Các thói quen đã thành hình trong cuộc sống trước đó không hề mất đi chút sức mạnh nào trong việc ảnh ưởng tới sự chọn lựa vào lúc phải quyết định sau cùng này. Một người mà trọn cuộc sống của họ chỉ hoàn toàn để thoả mãn bản thân thì, vào lúc này, gần như chắc chắn càng quan tâm đến họ nhiều hơn bất cứ điều gì khác, và sẽ chỉ nghĩ đến Thiên Chúa như phương tiện để tạo hạnh phúc riêng của họ, chứ không phải là cùng đích đáng thờ phượng trong kính yêu. Chắc chắn họ chỉ tự do chọn sống vĩnh viễn như họ đã tự do chọn sống thời gian. 

Phê bình quan điểm chọn lựa tự do. Một số luận điểm khác nhau đã được đưa ra để nâng đỡ lý thuyết tự do chọn lựa nói trên vào lúc chết. Không tội trọng nào phạm lúc còn sống mà lại xấu xa đủ để biện minh cho hình phạt đời đời trong hỏa ngục; nhưng một hành vi chống lại Thiên Chúa, phạm với sự hiểu biết rõ ràng hoàn toàn mới tập trung trong nó mọi sự dữ vốn nhất thiết được coi là đủ để giáng hình phạt khủng khiếp kia. Hành vi hoàn toàn có chủ tâm bác bỏ Thiên Chúa này tự nó đã giập tắt các thói quen của đức tin và đức cậy siêu nhiên nơi những người tội lỗi nào lúc chết đang sở hữu chúng, dù họ thiếu đức ái; vì xem ra không thích đáng khi coi Thiên Chúa như nguyên nhân trực tiếp của việc ngưng các thói quen này, nhưng chúng phải ngưng khi linh hồn vĩnh viễn phải cắt rời khỏi Thiên Chúa mà vào hỏa ngục. Giải pháp này có thể giải thích được việc ơn thánh Thiên Chúa có thể tác động ra sao và cứu được các trẻ thơ chết mà chưa được chịu Phép Rửa; vì vào lúc này, các em được ban cho khả năng chọn Thiên Chúa như cùng đích của các em và do đó, đạt được hạnh phúc vĩnh cửu với Người. Sau cùng, các nhà thần học này nói rằng: điều xem ra lạ lùng là hành vi mà mọi sự trong hiện hữu của con người tùy thuộc vào lại không phải là một hành vi nhân linh, nghĩa là một hành vi hoàn toàn tự do, có chủ tâm, theo nghĩa đầy đủ nhất. 

Các luận điểm trên, dù có khả năng thuyết phục, nhưng không thuyết phục được ai, và chúng thiếu hỗ trợ thực chất trong Thánh Kinh và Thánh Truyền. Toàn bộ Thánh Kinh đã cho rằng con người cuối cùng sẽ bị phán xét và số phận đời đời của họ sẽ được xác định bởi các việc làm và chọn lựa đã thực hiện lúc còn sống cuộc sống tử sinh, lúc linh hồn còn kết hợp với thân xác và hành xử một cách lệ thuộc nó. Không một chỗ nào nhắc đến việc chọn lựa có tính quyết định của linh hồn vào lúc nó rời khỏi xác và không phụ thuộc thân xác nữa. Thánh Phaolô, chẳng hạn, viết rằng “Mọi người chúng ta đều sẽ xuất hiện trước tòa án của Chúa Kitô, để nhận lãnh điều tốt hay điều xấu, tùy theo những gì mỗi người từng làm trong thân xác” (2Cr 5:10). Các Giáo Phụ đã giả thiết một cách tỏ tường rằng thời gian thử thách và trạng thái kết hợp chỉ là một. Điều này đặc biệt rõ ràng trong các giáo huấn của các ngài về phép thống hối, trong đó, các ngài cảnh cáo các Kitô hữu rằng họ sẽ không còn cơ hội thống hối một khi họ đã lìa bỏ thế giới này (xem Pseudo-Clement, Cor. 8.2–3). Ngoài ra, đức tin định tín của Công Giáo dạy rằng mọi trẻ thơ chết sau khi chịu Phép Rửa đều được cứu rỗi. Ấy thế nhưng, nếu các em tự do chọn cùng đích của mình ở lúc chết, thì xem ra không có lời giải thích tại sao một số em lại không chọn việc bác bỏ Thiên Chúa, giống như một số thiên thần đã làm lúc bị thử thách. 

Hơn nữa, Giáo Hội hữu hình, Nhiệm Thể Chúa Kitô, được mạc khải trình bầy như hòm bia cứu rỗi, một phương thế để đạt tới sự sống đời đời. Như thế, xem ra sinh hoạt dứt khoát của con người để đạt được sự kết hợp mãi mãi với Chúa Kitô hẳn phải xẩy ra khi họ còn là chi thể của Giáo Hội hữu hình. Cuối cùng, khi nhớ lại rằng các trước tác đầu tiên của phái Ngộ Đạo đầy rẫy các truyện kể về các thử thách và cám dỗ cần phải vượt qua khi linh hồn không còn kết hợp với thân xác nữa, thì hẳn ta sẽ lấy làm lạ, thậm chí khó hiểu, khi toàn bộ mạc khải Kitô Giáo hoàn toàn im lặng đối với các thử thách này, các thử thách mà mọi sự giả thiết phải tùy thuộc. Vì thế, nhiều thần học gia không chấp nhận thuyết chọn lựa tự do ở lúc chết và giải thích cách khác về sinh hoạt của linh hồn, một sinh hoạt khai mở trạng thái không thể thay đổi của con người vào lúc qua đời.


b. Quan điểm tóm kết các hành vi tự do. Do đó, đối với các nhà thần học này, hành vi của linh hồn vào lúc chết, lúc tự do của họ từ đó trở đi mãi mãi được nối kết nhất định với một cùng đích đặc thù, chứ không còn tự do theo nghĩa có thể khác đi, xét vì lịch sử cụ thể của cá nhân thực hiện hành vi. Nó tự do theo nghĩa hoàn toàn tự phát, không bị bắt buộc hay ấn định bởi bất cứ điều gì ở bên ngoài linh hồn, nhưng phát sinh hoàn toàn từ những gì linh hồn đã trở nên lúc còn ở trên đời và nói lên hoàn toàn đặc tính đã hoàn thành bởi nhiều chọn lựa tự do trước đó. Hành vi này tự do theo nghĩa nó hoàn toàn tóm kết mọi hành vi tự do đã thực hiện lúc còn sống trong cuộc sống tử sinh. Nó đặc biệt hiện thân cho hướng đi triệt để của ý chí vốn đã được cá nhân này tự do chọn lựa lần cuối cùng trong một hành vi diễn ra trước giờ chết, một hành vi tự do diễn ra một cách đặc biệt dưới sự quan phòng đầy yêu thương và khôn ngoan của Thiên Chúa. Việc kêu gọi tới ơn thánh trong giây phút này có thể cực kỳ mạnh mẽ, nhưng hành vi tự do thực hiện trước cái chết, về phẩm lượng, là một với bất cứ hướng đi tự do nào đã chấp nhận trong suốt đời cá nhân lúc còn sống. Như thế, giờ chết thực đối với mỗi người là vấn đề có liên hệ đặc biệt khiến Thiên Chúa phải săn sóc con người. Điều này không có nghĩa sự chết luôn xẩy ra trong các hoàn cảnh được Thiên Chúa muốn một cách tích cực: vì một số người chết vào một lúc đặc thù nào đó là do ác ý hay do bất cẩn của người khác, chứ Thiên Chúa không tích cực muốn như thế. Nhưng nó có nghĩa: ơn thánh của Thiên Chúa chắc chắn có đó để biến sự chết thành biến cố cứu rỗi, ngoại trừ trường hợp người nào đó, do các chọn lựa trước đó, đã cứng lòng đến nỗi tự đặt mình ra khỏi tầm tay của lòng Chúa thương xót vì, trong sự khôn ngoan của Người, Thiên Chúa ngỏ lòng thương xót này cho mọi con người. Như thế, hành vi của ý chí, diễn ra ngay lúc chết như giây phút đầu tiên của trạng thái vĩnh viễn của linh hồn, là hoa trái cần thiết của mọi đáp trả tự do của con người đối với ơn thánh Thiên Chúa, nhất là đối với ơn thánh sau cùng Chúa dùng để đem con người, cuối cùng, về với Người.

Các nhà thần học này trả lời các luận điểm chọn lựa tự do vào lúc chết bằng cách trước nhất cho rằng điều mà các chọn lựa tự do cá thể thực hiện trong đời thiếu trách nhiệm đầy đủ sẽ được bù đắp bởi chính con số và các nối kết qua lại của các chọn lựa này. Không như các thiên thần, con người không quyết định số phận của họ trong một khoảnh khắc duy nhất trong đó họ hiểu biết và cam kết trọn vẹn, nhưng như một hữu thể lệ thuộc không gian và thời gian mà đời sống gồm các quyết định tự do, chỉ tăng tiến dần dần, hướng tới các chiều kích vĩnh viễn của một nhân cách dứt khoát. Như thế, hành vi xuất hiện như là hậu quả nhất thiết của diễn trình này đã giải thích một cách hữu lý việc loại bỏ người có tội ra khỏi nhan Thiên Chúa một cách công bình, và cả việc giập tắt các thói quen của đức tin và đức cậy. Vì mọi tội không được ăn năn tự nhiên có xu hướng làm sói mòn đức tin và đức cậy; ở đây, xu hướng này hết sức hữu hiệu. Các nhà thần học này cho rằng số phận các trẻ thơ chết mà chưa được chịu Phép Rửa là điểm quá tối tăm không thể dùng để minh giải bất cứ điều nào khác. Và sau cùng, họ nhấn mạnh rằng: như đã được các người chủ trương chọn lựa cuối cùng vào lúc chết mô tả, hành vị tự do cuối cùng này không phải là một hành vi nhân bản mà là một hành vi thiên thần, phản ảnh quan điểm Platông trá hình.

Các điểm tương tự. Dù có sự khác nhau về ý kiến giữa các nhóm thần học gia trên liên quan đến bản chất hành vi của linh hồn lúc chết, nhưng phóng đại sự khác nhau này sẽ là một sai lầm. Vỉ cả hai nhóm cùng đồng ý rằng hành vi này lệ thuộc một cách sâu sắc và không thể nào tránh khỏi vào các chọn lựa đã thực hiện trước đó, lúc linh hồn còn ở trong trạng thái kết hợp với thân xác. Dù có chủ trương cho rằng các chọn lựa trước đó không xác định hành vi này tự bên trong một cách toàn diện và nhất thiết, nhưng điều này không có nghĩa khuyến khích người có tội triển hạn việc thống hối của họ, hòng sẽ giải quyết sự việc vào phút chót, mà có nghĩa làm cho người này nhận trọn trách nhiệm một cách rõ ràng về câu trả lời đối với ơn thánh của Thiên Chúa. Cả hai nhóm cũng đồng ý rằng trong hành vi này, con người trở nên chính họ một cách dứt khoát, và chính trong giây phút này, việc họ liên kết một cách nội tại với hạnh phúc thiên giới hay với trống vắng khủng khiếp của tội lỗi sẽ kéo dài mãi mãi. Cuối cùng, cả hai nhóm đồng ý rằng trạng thái liền sau sự chết, xét theo yếu tính, không tiếp nhận tính bất biến của nó từ một mệnh lệnh ngoại tại, tự do của Thiên Chúa, mà từ chính bản chất của sự chết và sinh hoạt của linh hồn trong lúc đó. Sự chết và vĩnh cửu tùy thuộc đời sống và thời gian tử sinh.

c.Quan điểm dự ứng. Nhưng vì đời sống tử sinh và các chọn lựa của nó tất cả đều qui hướng về sự hoàn thành lúc chết, nên sự sống quả lệ thuộc sự chết. Sinh hoạt của linh hồn vào lúc chết đã hiện diện qua dự ứng (anticipation) và mục đích nội tại của mọi sinh hoạt tự do có chủ tâm lúc sống. Chính điều này đem lại cho mọi biến cố nhân bản khía cạnh bất phản hồi của nó. Các biến cố này không diễn ra trong một vòng tròn tự lặp lại không cùng mà là theo cách nếu sự vật diễn ra cách này vào lúc này thì nó sẽ diễn ra cách khác vào lần kế tiếp; vì sẽ không bao giờ có lần kế tiếp, theo nghĩa sâu xa nhất của từ ngữ. Bất cứ điều gì xẩy ra cũng chỉ xẩy ra một lần cho tất cả. Dĩ nhiên, ảnh hưởng của một chọn lựa tự do không biệt lập và có tính xác định từ ngay trong nó; nhưng nó đã được lồng một cách bất phản hồi vào đời một con người để xuất hiện như là được chấp nhận hay bác bỏ lần cuối cùng trong lúc chết.

Sự hiện diện dự ứng của sinh hoạt lúc chết này trong tất cả các chọn lựa tự do lúc còn sống cũng đem lại cho các kinh nghiệm hoàn toàn nhân bản đặc tính đã thể hiện một cách dự ứng. Nó có nghĩa: mọi đau khổ và thử thách trong đời đều tạo thành một phần của việc từ bỏ mình có tính cứu rỗi (redemptive unselfing) được sự chết làm cho hoàn hảo. Nó cũng có nghĩa: mọi niềm vui không vị kỷ ở trong đời, qua đó, hạnh phúc của nhiều người khác cũng là hạnh phúc của chính mình và các chiến thắng của lòng Chúa thương xót qua Chúa Kitô cũng là các chiến thắng của chính mình, những niềm vui này đều là khởi đầu cho một vinh quang trọn vẹn sẽ được tỏ lộ nơi con người. Ta thấy điều này đúng trong trường hợp của chính Chúa Kitô: tất cả việc sẵn lòng chấp nhận thiếu thốn và lo âu của Người là một dự ứng cho việc chấp nhận sự chết của Người và Núi Tabo cũng như các biểu hiện khác của việc xuất hiện Nước Thiên Chúa đều là các kinh nghiệm được dự ứng của sự chiến thắng Phục Sinh của Người. 

4. Sự thành toàn có tính yếu tính

Thiển nghĩ cũng nên xem xét vấn đề: đặc tính hoàn thành có tính yếu tính của kinh nghiệm chết đã giúp giải thích các phương diện đặc biệt của mầu nhiệm sự chết được bàn từ trước đến nay ra sao.

Mặc dù sự chết, như một biến cố tự nhiên, nhất quyết không phải là một biến cố kết án hay cứu rỗi, nhưng việc nó xuất hiện đầu tiên trong lịch sử loài người là một biểu hiện của việc Thiên Chúa phán xét con người tội lỗi. Trong trường hợp người tội lỗi, việc bề ngoài đánh mất sự sống xác thân tượng trưng cho và duy trì việc họ phải xa lìa Thiên Chúa một cách bất phản hồi. Vì trong sinh hoạt lúc chết, người tội lỗi đã nói lên một cách trọn vẹn việc họ tách đời họ ra khỏi Thiên Chúa và chỉ còn thấy sự cô lập khủng khiếp của bản thân mình trong sự chọn lựa đã đặt mình vào thế xa lạ với toàn thể vũ trụ. Bởi thế, hỏa ngục chủ yếu chỉ là việc kéo dài giây phút này tới muôn đời mà thôi. 

Người ta cũng thấy rõ ràng rằng việc biến đổi hiện hữu con người chỉ có thể thực hiện được qua việc biến đổi sự chết của họ; vì trọn cuộc sống của con người đều hướng về sự chết, và sinh hoạt lúc chết đã được dự ứng trong mọi chọn lựa lúc sống. Như thế, điều này có nghĩa: nếu Chúa Kitô muốn cứu chuộc nhân loại bằng cách trở nên nguồn nội tại của quyền lực biến đổi đầy vinh quang Thiên Chúa ngay bên trong nòi giống nhân loại, thì Người phải trở nên như thế bằng cách chính Người trải qua kinh nghiệm chết. Dĩ nhiên, ngay từ đầu, Chúa Kitô, trong yếu tính, vốn đã hoàn hảo ngay trong bản tính nhân loại của Người; Người đã là một người được chiêm ngắm Thiên Chúa và việc chiêm ngắm này không thể nào mất đi được. Nhưng bản tính nhân loại của Người, như Người đã mang lấy, chưa được thành toàn (consummated) trọn vẹn; nó phải chịu đau khổ, bị hắt hủi, bị cô đơn, và tối tăm chết chóc. Nó chưa là nguồn vinh hiển trao ban Thần Khí. Nó chỉ trở nên như thế bởi việc hoàn thành kinh nghiệm chết, qua đó, mọi tình yêu và đức vâng lời lúc còn sống của Người tập trung vào hành vi hiến mình hoàn toàn cho Chúa Cha và bản tính nhân loại của Người được chuyển vào lãnh vực vinh quang thần thánh, một chuyển dịch sẽ được hoàn tất trong Phục Sinh. 

Đối với Kitô hữu cũng thế, nhờ dần dần mỗi ngày mỗi được đồng hóa với Chúa Kitô hơn, nên sự chết, vì hoàn toàn nắm được sự trọn vẹn của câu trả lời đối với Thiên Chúa, sẽ trở thành giây phút họ chiếm hữu được sự sống và sự chết của Chúa Kitô lần cuối cùng và cũng là giây phút họ ráng sức hướng tới sự phục sinh thân xác. Đức tin, đức cậy và đức mến và toàn bộ việc thờ phượng bằng đời sống bí tích của Giáo Hội sẽ đạt tới độ chín mùi vào giây phút hoàn toàn suy phục này với Chúa Kitô. Hành động này, một hành động đặt người Kitô hữu mãi mãi ở bên kia khả năng có thể sa vào các gian dối của Satan, sẽ giúp họ dự phần vào cộng đoàn các thánh, những vị sẽ trỗi dậy đón mừng Chúa Kitô vào những ngày sau hết, khi Người đến trong vinh quang để chuyển giao nước Thiên Chúa cho Chúa Cha để Người là tất cả trong mọi sự. 

IV. Chuẩn bị sự chết 

Theo quan điểm tự nhiên, sự chết là một biến cố đáng sợ và làm ta khiếp đảm, vì nó phân hủy nhân cách con người. Tuy nhiên, muốn nắm được trọn ý nghĩa của nó, ta phải dựa vào đức tin và coi sự chết như là hậu quả của tội lỗi (Rm 5:12; H. Denzinger, Enchiridion symbolorum [Freiburg 1963] 1511–12). Nó do con người chứ không do Thiên Chúa. Như trên đã nói, Sách Khôn Ngoan cho ta biết một sự thật rất sâu sắc và đầy an ủi như sau: “Thiên Chúa không tạo ra sự chết, Người cũng không hân hoan trước việc sinh vật bị hủy diệt” (Kn 1:13; xem 2:23-24). Đàng khác, quyền lực Satan (Ga 8:44; Dt 2:14) và quyền lực sự chết đã bị bẻ gẫy bởi việc nó bị sự chết quật ngã một cách nghịch lý. Ngôi Lời nhập thể đã nhận lấy sự chết, một điều hết sức khủng khiếp đối với con người và “sự chết bị nuốt trửng trong chiến thắng” (1Cr 15:54).

‘‘Khi chết, Người đã tiêu diệt sự chết của chúng con và khi sống lại, người đã phục hồi sự sống chúng con” (Kinh Tiền Tụng Lễ Phục Sinh). 

Sự chết của người ta nay đã mang một ý nghĩa mới: nó phải ở trong sự kết hợp với Chúa Kitô. Việc chết khi nào và chết ra sao là do Thiên Chúa ấn định, nhưng cá nhân phải quyết định sẽ chấp nhận nó cách nào. Họ có thể tự ý chấp nhận thánh ý Thiên Chúa, vì quả thực, việc chuẩn bị chết quan trọng nhất chính là việc sẵn lòng chấp nhận nó. Việc này bắt đầu với một đức tin khiêm nhường, trông cậy và yêu mến, với việc cầu nguyện và sống thực lời cầu xin “ý Cha thể hiện”. Điều này đòi phải có một tinh thần ăn năn thống hối và từ bỏ mình. Sự chết là một hành vi hiến tế, hiến tế lần chót; bởi thế, tinh thần hy sinh là điều chủ yếu để chuẩn bị đón chào nó. 

Không có cách nào tốt hơn để chuẩn bị cho hiến lễ chết bằng việc liên kết với cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô, một việc liên kết “được áp dụng cho con người thông qua các bí tích” (Thánh Tôma Aquinô, Summa theologiae 3a, 61.1, ad 3). Mỗi một bí tích, theo cách chuyên biệt của nó, đều giúp ta chuẩn bị đối diện với sự chết mà không phải sợ hãi. Việc này được đánh giá và áp dụng tốt nhất nhờ việc tham dự phụng vụ, vốn là thầy dậy ta về “tinh thần Kitô Giáo đích thực” (Công Đồng Vaticanô II, Hiến Chề về Phụng Vụ, số 14). “Phụng vụ...thúc giục các tín hữu đã được no thỏa ‘nhiệm tích vượt qua’, trở nên ‘một trong sự thánh thiện’.... Lễ Tạ Ơn... lôi cuốn các tín hữu vào tình yêu thúc bách của Chúa Kitô và làm họ bốc cháy” (ibid. 11).

‘‘Nhờ Phép Rửa, con người được dìm vào mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô (ibid. 6). Một cách bí tích, chúng ta đã chết, được an táng, và đã sống lại với Chúa Kitô (xem Rm 6.3–4; Cl 3.3; 2 Tm 2.11). Cái chết thể lý không chứa bất cứ sợ hãi nào; nó chỉ thể hiện việc tham dự trọn vẹn hơn vào vinh quang của Chúa Kitô. Đối diện với đàng thánh giá hàng ngày của đời sống, ta có được sự tham dự trọn vẹn hơn vào chức linh mục của Chúa Kitô và Thần Khí Yêu Đương. Phép Thêm Sức ban cho ta “sự viên mãn của Chúa Thánh Thần... để ta lớn mạnh về thiêng liêng, một việc vốn thuộc về thời hoàn hảo” (Summa theologiae 3a, 72.2). Đây chính là nguồn sức mạnh thường hằng giúp ta đối diện với sự chết. Trong Phép Thánh Thể, các Kitô hữu “công bố sự chết của Chúa, cho tới khi Người đến” (1Cr 11:26). Nó không phải chỉ là việc tưởng nhớ, nó là “việc làm hiện diện trở lại” (representing) sự chết của Người: “Việc chiến thắng và thắng lợi sự chết của Người được làm cho hiện diện trở lại” (Hiến Chế về Phụng Vụ, số 6). Tham dự vào chức linh mục của Người, các Kitô hữu dâng Chúa Kitô và họ cũng là lễ vật hy sinh từng chịu đau khổ và chịu chết với Người. Thánh Thể là chết cho bản thân mình. Mỗi một việc Hiệp Lễ nên chuẩn bị ta kết hợp đời đời với Chúa Kitô khi chết. Tội lỗi làm con người sợ phán xét của Chúa. Tuy nhiên, một cách đầy nhân từ, lòng Chúa thương xót có sẵn đó trong bí tích Thống Hối. Lòng thương xót lúc Khổ Nạn được áp dụng cho con người. Mỗi cuộc xưng tội đều là việc tham dự trọn vẹn hơn vào mầu nhiệm vượt qua. Hôn phối phải luôn phản ảnh tình yêu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội của Người (Ep 5). Bí tích này khi thực hiện sự chết cho lòng vị kỷ là một việc chuẩn bị liên tục cho cái chết thực sự. Bí tích Truyền Chức Thánh biến con người thành một Chúa Kitô khác. Hy sinh và chia sẻ các hồng ân thiên giới là ơn gọi của ngài: đây chính là chết cho cái tôi. Khi bệnh hoạn hành hạ, lúc cái chết tới gần, con người ở thế yếu đuối nhất. Cái chết của họ được đặc biệt liên kết với cái chết của Chúa Kitô; sức mạnh của Chúa Kitô cũng được chia sẻ như thế. Ngay lúc họ rơi xuống thung lũng sự chết, Phép Xức Dầu Bệnh Nhân thực hiện một nghịch lý: “Chúa sẽ nâng họ lên” (Gcb 5:15). Lòng thương xót nhập thể sẽ còn đồng hành với họ đi vào cõi vĩnh hằng qua Của Ăn Đàng. Họ đã được chuẩn bị để được vinh quang. Kinh đêm (compline) là kinh chuẩn bị cho giấc ngủ, một biểu tượng rất mạnh của sự chết. Quả vậy, mọi lời kinh con người đọc đều kết hợp ý chí của họ với ý chí của Thiên Chúa, nhờ thế, chuẩn bị để họ làm thế vào lúc chết. Phép mân côi của Đức Mẹ dạy ta điều này một cách thực tiễn. Những lời cầu nguyện như thế, vừa phụng vụ vừa tư riêng, như là những khúc dạo đầu dẫn tới lời cầu thiên giới, đều là những chuẩn bị hữu hiệu của ta đón chờ sự chết hạnh phúc. 

Chuẩn bị thực tiễn

Đức Phanxicô, trong bài giảng lễ Chúa Nhật 32 mùa thường niên năm nay cũng như tác giả Rick Becker tiếp nối ý hướng dự ứng khi nhân cơ hội nói tới dụ ngôn 5 cô khờ dại và năm cô khôn ngoan, đã khuyên ta nên chuẩn bị thích đáng lúc còn cơ hội. Dầu đèn lúc nào cũng đầy đủ sẵn sàng. Đèn tượng trưng cho đức tin, dầu tượng trưng cho đức mến. Becker, nhân dịp này, nhắc lại lời tác giả Sách Gương Phúc, Thomas à Kempis: “nếu bạn không sẵn sàng đối diện với cái chết hôm nay, chắc chắn bạn khó có thể sẵn sàng vào ngày mai”. 

Quan trọng nhất trong các việc chuẩn bị lâu dài theo tinh thần trên là việc năng chịu các bí tích, hàng ngày cầu nguyện, thực hành các việc thương người phần hồn và phần xác tùy theo hoàn cảnh riêng mỗi người, và trung thành sống ơn gọi của mình. 

Becker cho rằng khi ta tiến tới ngưỡng cửa sự chết, lời cầu nguyện của ta sẽ sốt sắng hơn, nó sẽ niêm phong lòng trung thành của ta với Chúa và giúp bảo vệ ta chống lại thất vọng và lo lắng. Ta sẽ dựa nhiều hơn vào các bạn bè trên thiên quốc, nhất là Thánh Giuse “quan thầy sự chết tốt lành” (Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo) và Thánh Bênêđíctô thành Norsia, quan thầy người hấp hối. Cả thánh Phanxicô Assisi nữa, vị thánh đã gọi sự chết là “Em Gái”. 

Ngoài ra, ta sẽ sốt sắng lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, khi “toàn thể Giáo Hội trao phó các người bệnh cho Chúa đau khổ và hiển vinh, để Người nâng họ lên và cứu vớt họ” (Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, số 1499). Các việc xưng tội lần cuối cùng của ta sẽ dọn sạch mọi ngõ ngách trong lương tâm ta và các lần rước lễ sau cùng của ta như lương thực đi đường. Các bí tích này được Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo coi là “hoàn tất cuộc hành trình dương thế” và “chuẩn bị cho ta về quê hương trên trời” (số 1525). 

Quê hương ấy được văn hào Công Giáo C.S. Lewis mô tả như sau trong The Last Battle: “Trọn đời sống họ ở thế gian này và trọn các mạo hiểm của họ ở Narnia chỉ là tờ bìa và trang tựa đề: cuối cùng, nay họ đang bắt đầu Chương Một của Câu Truyện Vĩ Đại, một câu truyện mà người dương gian chưa từng được đọc: một câu truyện kéo dài vĩnh viễn; trong đó, mọi chương đều hay hơn chương trước đó”.

Phần Đức Phanxicô, trong Tự Sắc Misericordiae Vultus mở Năm Thánh Thương Xót, đã nhắc lại biến cố trước khi vào Vườn Diệtsimani để long trọng chấp nhận sự chết, Chúa Kitô đã cùng các môn đệ đọc Thánh Vịnh 136, Thánh Vịnh mà người Do Thái gọi là “Thánh Vịnh Hallel Vĩ Đại”. Trong Thánh Vịnh này, tiếp theo mỗi câu thuật lại lịch sử mạc khải của Thiên Chúa, cộng đoàn thờ phượng đều đáp “vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời”.

Bình luận về việc lặp đi lặp lại điệp khúc “vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời”, Đức Phanxicô cho rằng: lòng thương xót biến lịch sử của Thiên Chúa với Israel thành một lịch sử cứu rỗi. Khi liên tục nhắc đi nhắc lại câu “vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời”, như Thánh Vịnh đang làm, là vượt qua các chiều kích không gian và thời gian, lồng mọi sự vào mầu nhiệm muôn đời của tình yêu. Nó như thể muốn nói: không phải chỉ trong lịch sử, mà cho đến muôn đời, con người luôn luôn ở dưới cái nhìn xót thương của Chúa Cha”. 

Nói về mối liên hệ giữa Thánh Vịnh trên và cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, Đức Giáo Hoàng viết tiếp: “Trong chính bối cảnh lòng thương xót trên, Chúa Giêsu đã bước vào cuộc khổ nạn và cái chết của Người, ý thức rất rõ mầu nhiệm yêu thương vĩ đại mà Người sẽ chấp nhận hoàn toàn trên Thập Giá”. 

Thiết nghĩ không an ủi nào cho người hấp hối bằng tâm niệm điều Chúa Kitô đã tâm niệm:

“Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời.

Hãy tạ ơn Thần các thần,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời.

Hãy tạ ơn Chúa các chúa,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời.

Chỉ có Người làm nên những kỳ công vĩ đại,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

tầng trời cao, Chúa tạo dựng tài tình,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

trải mặt đất này trên làn nước bao la,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

Người làm ra những đèn trời to lớn
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

cho thái dương điều khiển ban ngày,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

đặt trăng sao hướng dẫn ban đêm,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời.

Người sát hại các con đầu lòng Ai-cập,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

dang cánh tay uy quyền mạnh mẽ,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

dẫn Ít-ra-en ra khỏi xứ này,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời.

Nước Biển Đỏ, Chúa phân làm hai khối,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

đưa Ít-ra-en lối giữa băng qua,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

xô xuống biển Pha-ra-ô cùng binh tướng,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời.

Chúa dẫn đưa dân Người qua sa mạc,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

sát hại bao lãnh chúa hùng cường,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

tiêu diệt những quân vương hiển hách,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

vua Xi-khôn của dân tộc E-mô-ri,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

và vua Ốc miền Ba-san nữa,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

Người chiếm đất họ, ban làm gia sản,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

gia sản cho tôi tớ Người là Ít-ra-en,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời.

Chúa đã nhớ đến ta giữa cảnh nhục nhằn,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

gỡ ta thoát khỏi tay thù địch,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời,

Người ban lương thực cho tất cả chúng sinh,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời.

Hãy tạ ơn Thiên Chúa cửu trùng,
vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời”.

(hết) 

Vũ Văn An

(Nguồn: Vietcatholic.net)