HÔN NHÂN GIA ĐÌNH HƯỚNG ĐẾN NỀN VĂN HÓA SỰ SỐNG ( PHẦN CUỐI ) | HƯỚNG MỤC VỤ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

14/10/2023
2470



HÔN NHÂN GIA ĐÌNH HƯỚNG ĐẾN NỀN VĂN HÓA SỰ SỐNG ( PHẦN CUỐI )

HƯỚNG MỤC VỤ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

 

I.              Linh Đạo Hôn Nhân Gia Đình Dựa Trên Suy Tư Thần Học Kitô Giáo

Trong Hội Thánh, có nhiều bậc sống khác nhau, nên cũng có nhiều con đường nên thánh khác nhau tuỳ theo mỗi bậc sống. Linh mục, tu sĩ có cách nên thánh của linh mục, tu sĩ. Giáo dân cũng có cách nên thánh riêng của mình. Con đường nên thánh dành cho mỗi bậc sống như vậy được gọi là linh đạo. Con đường này do Chúa Thánh Thần khơi dậy, để giúp người tín hữu bước theo Đức Kitô và đạt tới đức ái trọn hảo theo bậc sống của mình. Đối với các đôi vợ chồng, Công đồng Vaticanô II nói: “Nhờ sức thiêng của bí tích Hôn phối, các đôi vợ chồng Kitô hữu biểu hiện và tham dự vào mầu nhiệm hiệp nhất và tình yêu phong phú giữa Đức Kitô và Hội Thánh[113]; họ giúp nhau nên thánh trong đời sống hôn nhân, trong việc đón nhận và giáo dục con cái; nhờ đó, họ nhận được những ơn riêng cho bậc sống của mình trong Dân Chúa. Được ban cho những phương tiện cứu rỗi dồi dào như thế, mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào cũng đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha là Đấng trọn lành, tuỳ theo con đường của mỗi người”[114]. Chính vì thế, để chuẩn bị cho người tín hữu bước vào đời sống hôn nhân xét như một ơn gọi, thiết nghĩ Giáo Hội cần giúp họ hiểu biết cách sâu xa linh đạo hôn nhân gia đình Kitô giáo như một con đường Thiên Chúa mời gọi họ nên thánh trong ơn gọi cao cả này. Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu những nét đẹp trong linh đạo hôn nhân gia đình Kitô giáo.

1.     Hôn nhân gia đình với tình yêu sáng tạo

Vì yêu thương, Thiên Chúa đã sáng tạo vũ trụ và muốn cho con người được làm con của Ngài, sống hạnh phúc với Ngài mãi mãi [115]. Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ, để yêu thương và bổ túc cho nhau, đồng thời làm chủ những gì Chúa đã dựng nên. Vì thế, Ngài đã truyền cho họ: “Hãy sinh sản cho đầy mặt đất” [116].

Qua bí tích Hôn phối, đôi bạn được mời gọi cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa bằng việc sẵn sàng đón nhận con cái và giáo dục chúng nên người, tạo nên một tổ ấm phục vụ cho sự sống. Mỗi lần trao cho nhau những hành vi âu yếm, mở ngỏ cho sự sống, đôi bạn ý thức mình đang cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa và nên thánh trong chính trong chính nếp sống đó. Khi chiêm ngắm tình yêu dịu dàng Thiên Chúa dành cho dân Israel, đôi vợ chồng biết luôn đổi mới tình yêu của mình qua những cử chỉ, lời nói, việc làm để đem lại hạnh phúc cho nhau và cho con cái. Trong việc giáo dục, cha mẹ ý thức mình là những người cộng tác của Thiên Chúa, nhờ đó không ngã lòng hoặc buông xuôi trước những đứa con bướng bỉnh, nhưng  biết cậy trông vào ơn Chúa để luôn nhẫn nại, kiên trì, và yêu thương[117].

2.     Hôn nhân gia đình với tình yêu giao ước

Thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã ký kết giao ước với dân Israel và ban cho họ Mười Điều Răn để hướng dẫn họ sống trung thành với giao ước. Ngài mời gọi họ: “Nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh”[118]. Thiên Chúa luôn trung thành với giao ước. Dù dân Israel bất trung, bội phản, Thiên Chúa vẫn một mực trung tín, xót thương và tha thứ. “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với người vẫn không thay đổi”[119]. “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương”[120].

Khi cử hành bí tích Hôn phối, đôi bạn trao cho nhau lời thề hứa sẽ yêu thương và trung thuỷ với nhau suốt đời: “Tôi là.... nhận (anh / em) làm (chồng / vợ) và hứa giữ lòng chung thuỷ với (anh / em), khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khoẻ, để yêu thương và tôn trọng (anh / em) suốt đời tôi”[121].

Ơn bí tích Hôn phối giúp hai vợ chồng nên thánh trong việc sống lời cam kết trên mỗi ngày một trọn vẹn hơn. Khi nỗ lực sống yêu thương và trung thành với nhau, đôi vợ chồng phản ánh tình yêu của Thiên Chúa đối với con người, cũng như tình yêu của Đức Kitô đối với Hội Thánh. Đó là một tình yêu son sắt không đổi thay. Tình yêu đó tạo nên sự hiệp thông thâm sâu giữa vợ chồng với nhau, cũng như giữa cha mẹ và con cái, phản ánh mầu nhiệm hiệp thông trong Hội Thánh.

3.     Hôn nhân gia đình với tình yêu thập giá

Chúa Giêsu nói: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng sống mình vì bạn hữu”[122]. Ngài đã dùng cái chết trên thập giá để minh chứng Tình yêu của Thiên Chúa và để đem lại ơn cứu độ cho nhân loại. Con đường thập giá là con đường tình yêu, chấp nhận đau khổ để xoá bỏ tội lỗi và mang lại hạnh phúc cho người mình yêu. Thánh Phaolô đã khuyên nhủ các người làm chồng hãy nhìn vào gương Đức Kitô: “Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền”[123].

Đời sống hôn nhân và gia đình có rất nhiều thập giá: những khuyết điểm và tính xấu của nhau, những va chạm và xung khắc, những thất bại và rủi ro, những khi gặp tai ương và bệnh hoạn, cảnh hiếm muộn cũng như việc chấp nhận từ bỏ ý riêng để sống theo giáo huấn Hội Thánh về việc sinh sản có trách nhiệm v.v.... Đó là những thập giá cần được đón nhận với tình yêu: “Đời sống Kitô hữu mà không qua thập giá thì không thể đạt tới sự phục sinh. Như thế phải hiểu rằng không thể loại bỏ sự hy sinh trong đời sống gia đình, nhưng trái lại phải sẵn sàng đón nhận nó để tình yêu vợ chồng thêm sâu lắng và trở thành nguồn vui thân mật”[124].

Trong đời sống hôn nhân và gia đình, đôi bạn được mời gọi ngước nhìn lên thập giá Đức Kitô để học yêu thương, sống hi sinh, đón nhận nhau và tha thứ cho nhau: “Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau”[125]. Chính khi chấp nhận đi theo “con đường hẹp”, từ bỏ mình vác thập giá mình hằng ngày mà bước theo Đức Kitô, đôi vợ chồng cộng tác vào công trình cứu độ cho mình và cho mọi người trong gia đình.

4.     Hôn nhân gia đình với tình yêu phục sinh

Đức Kitô phục sinh đã ra khỏi mồ. Ngài đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, mang lại sự sống mới cho nhân loại cùng giao hoà tội nhân với Chúa Cha.

Trong đời sống hôn nhân và gia đình, mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh mời gọi đôi bạn luôn canh tân tình yêu của mình, không để những ích kỷ, ghen tương len lỏi vào tình yêu đôi lứa. Phương thế để canh tân tình yêu, chính là siêng năng đọc Lời Chúa, cầu nguyện, lãnh nhận các Bí tích, học biết thêm những kiến thức mới trong sách vở, báo chí để nuôi dưỡng tình yêu gia đình.

Ngoài ra, gia đình Kitô hữu còn có sứ mạng rao giảng Tin Mừng[126]. Gia đình phải cởi mở đón nhận Lời Chúa, rồi loan báo cho mọi người. Việc làm chứng và truyền giáo trước hết là trong chính gia đình: cha mẹ loan báo Tin Mừng cho con cái bằng những lời dạy dỗ và nhất là bằng gương sáng. Ngược lại, con cái cũng có bổn phận góp phần làm cho cha mẹ nên thánh. Gia đình Kitô hữu làm tông đồ bằng “chứng tá”. “Phải chứng minh rằng các con được gọi nên thánh và các con có thể sống một đời hôn nhân đẹp lòng Chúa. Các con chia sẻ với các gia đình khác: ân sủng, hạnh phúc, Chúa đã ban cho gia đình các con. Nhìn vào gia đình các con, thiên hạ phải đặt câu hỏi: “Tại sao họ có thể sống hiệp nhất, yêu thương, trung thành với nhau như thế?”[127].

5.     Hôn nhân gia đình với  việc đào tạo lương tâm

Con người ngày nay càng lúc càng xác tín rằng phẩm giá và ơn gọi của mình đòi hỏi con người phải nhờ trí tuệ mà khám phá ra các giá trị đã được khắc ghi trong bản tính của mình, không ngừng phát triển những giá trị ấy và thể hiện chúng ra trong cuộc sống, nhờ thế mà càng ngày càng luôn tiến bộ hơn. Tuy nhiên, trong những phán quyết của mình về các giá trị luân lý, nghĩa là về những gì là tốt hay xấu, tức là về những gì phải làm hoặc không được làm, thì con người không thể định đoạt những phán đoán theo tự do riêng của mình. Trong nơi sâu thẳm của lương tâm mình, con người khám phá thấy có một lề luật mà mình không phải là tác giả nhưng bắt mình phải tuân phục. Lề luật này được Thiên Chúa khắc ghi trong trái tim của con người một cách như thế nào đó để giúp họ nên kiện toàn hơn, và dựa trên chính lề luật đó Thiên Chúa sẽ phán xét con người cách riêng.

Ngày nay nhiều người cho rằng chuẩn mực pháp lý của hành vi nhân linh đặc thù của con người không nằm trong bản tính tự nhiên con người, cũng không nằm trong lề luật mạc khải, nhưng lề luật duy nhất tuyệt đối và bất di dịch chính là sự tôn trọng phẩm giá con người. Hơn nữa, chủ nghĩa tương đối về triết học và luân lý chối bỏ sự hiện hữu của mọi chân lý khách quan, cả trên bình diện hữu thể lẫn trên bình diện thực hành đạo đức. Mỗi người có chân lý riêng của mình, vì cá nhân giải thích các sự việc và cách sống theo sự hiểu biết riêng và theo lương tâm của mình. Từ đó phát sinh những hệ quả tai hại cho con người, gia đình và xã hội. Từ đó người ta biện minh cho việc phá thai như là một quyền của người phụ nữ, người ta ra sức để hợp pháp hóa sự trợ tử , kiểm soát sinh sản theo phương pháp nhân tạo, những luật cho phép ly dị tạo tình thế ngày càng bi thảm hơn, những quan hệ ngoài hôn nhân, v.v…

Gia đình Kitô hữu gặp thách thức rất lớn trong khi giúp hình thành nơi con cái mình một lương tâm ngay chính và biết tôn trọng sự thật, đồng thời làm sao phải tôn trọng phẩm giá và tự do của chúng cách thận trọng, và giúp chúng đào luyện một lương tâm ngay thẳng trước những vấn đề lớn của cuộc sống con người như: thờ phượng và thờ kính Thiên Chúa là Đấng Tạo Thành và Cứu Chuộc, yêu mến mẹ cha, tôn trọng sự sống, tôn trọng thân xác của chúng và thân xác của người khác, tôn trọng của cải và danh dự của người đồng loại, sống tình huynh đệ giữa mọi người, tôn trọng định mệnh chung của các thiện ích, không kỳ thị tôn giáo, không phân biệt giai cấp xã hội hay kinh tế, v.v...[128].

Để cho việc đào tạo lương tâm có hiệu quả, cần phải có sự cộng tác của mọi thành phần Giáo Hội và xã hội, vì xã hội được coi như sự nối dài của gia đình trong sứ mạng giáo dục. Thật là mâu thuẫn nếu trong nhà cha mẹ dạy con thật thà mà ra khỏi gia đình cha mẹ lại gian lận dối trá đối với những người xung quanh. Gương sáng của cha mẹ và những bậc cha anh đóng vai trò quan trọng để giáo dục lương tâm cho những thế hệ nối tiếp. Dân tộc và Giáo Hội Việt Nam trong tương lai sẽ ra sao nếu thế hệ hôm nay bàng quan nhắm mắt trước sự man trá lừa lọc? Đó là câu hỏi khiến cho các bậc phụ huynh, các giới hữu trách giáo dục phải đặt ra một cách nghiêm túc để kịp thời tìm biện pháp cứu vãn tình thế.

6.     Hôn nhân gia đình với cầu nguyện

Gia đình kitô hữu là nơi đầu tiên để học cầu nguyện. Đặc biệt với các trẻ nhỏ, kinh nguyện hằng ngày của gia đình là chứng từ đầu tiên về ký ức của Hội Thánh luôn được Chúa Thánh Thần nâng đỡ[129]. Giờ kinh chung trong gia đình chính là giờ ngồi bên nhau và cùng nhau ngồi bên Chúa. Từ sự hiệp thông này dẫn đến sự gặp gỡ Thiên Chúa, đồng thời việc gặp gỡ Thiên Chúa sẽ nối kết gia đình bền chặt hơn.

Trong gia đình, vợ chồng cùng cầu nguyện với nhau, cha mẹ và con cái cùng cầu nguyện với nhau sẽ là cơ hội để vun xới tình gia đình: hiệp thông với những người thân yêu đã khuất, những người vắng mặt; cầu nguyện cho những nhu cầu của nhau, vợ cầu nguyện cho chồng, chồng cầu nguyện cho vợ, con cái cầu nguyện cho cha mẹ, cha mẹ cầu nguyện cho con cái để giúp nhau mỗi ngày thêm hoàn thiện. Chính  Đức Giê-su đã hứa: "Quả thật, Ta bảo các con: nếu dưới đất, hai người trong các con đồng thanh xin về bất cứ việc gì, thì Cha Ta, Đấng ngự trên trời sẽ ban cho. Vì đâu có hai, ba người họp lại nhân danh Ta, thì có Ta ở đó, giữa họ"[130].

Kinh nguyện gia đình có nội dung độc đáo là chính cuộc sống gia đình. Qua những cảnh huống khác nhau, cuộc sống này được diễn giải như một ơn gọi từ Thiên Chúa mà đến và được thực hiện như một câu trả lời hiếu thảo cho tiếng gọi ấy: vui mừng và cực nhọc, hy vọng và u buồn, những chọn lựa quan trọng và quyết liệt, cái chết của những người thân yêu ... đều là những dấu hiệu về sự hiện diện ưu ái của Thiên Chúa trong cuộc sống gia đình; những biến cố ấy cũng phải trở thành những lúc thuận tiện cho lời tạ ơn, khẩn nguyện, cho sự tin tưởng phó thác của gia đình trong bàn tay Cha chung trên trời. Đàng khác, xét như Hội Thánh tại gia, gia đình Ki-tô hữu chỉ có thể sống được với sự trợ giúp liên lỉ của Thiên Chúa, và sự trợ giúp này sẽ không bao giờ thiếu nếu người ta biết cầu nguyện khẩn xin với lòng tin cậy và khiêm tốn[131].

7.     Hôn nhân gia đình với các bí tích

a.     Hôn nhân gia đình với Bí Tích Rửa Tội

Nhờ bí tích Rửa Tội người kitô hữu được tái sinh làm con Thiên Chúa, làm chi thể Đức Kitô và đền thờ Chúa Thánh Thần[132]. Họ được tháp nhập vào Hội Thánh là thân thể Đức kitô và là gia đình con cái Thiên Chúa.

Qua bí tích Hôn Phối, đôi bạn được thông phần vào giao ước tình yêu của Đức Kitô và Hội Thánh: “ Bởi thế, người ta sẽ lìa bỏ cha mẹ mình mà kết hợp với vợ mình và cả hai nên một thân xác. Mầu nhiệm này thật lớn lao, tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh”[133]. Do đó, lòng trung thành và tình yêu mà đôi bạn trao cho nhau trong bí tích Hôn Phối, cũng chính là lòng trung thành trong đức tin và đức mến, mà mỗi người đã tuyên hứa khi chịu phép Rửa Tội. Vì thế, khi cùng sống bí tích Rửa Tội, họ cũng thực hiện chính lời giao ước hôn nhân của mình[134]. Đồng thời, hai vợ chồng cần đặc biệt quan tâm thực hiện việc rửa tội cho con cái.

 

b.      Hôn nhân gia đình với Bí Tích Thêm Sức

Khi lãnh nhận bí tích Hôn Phối, đôi bạn trở thành nhân chứng cho tình yêu tự hiến của Đức Kitô và xây dựng Nước Chúa trong chính bậc sống hôn nhân của mình. Những hy sinh, đau khổ và thử thách trong cuộc sống chung, sự giáo dục con cái nên người con Chúa đều là những công việc quý giá góp phần mở mang Nước Chúa. Chính ơn sức mạnh của Chúa Thánh Thần sẽ giúp đôi bạn chu toàn những nhiệm vụ trên. Nơi bí tích Hôn Phối, “ chính Chúa Thánh Thần là dấu ấn hôn ước của hai vợ chồng, là nguồn mạch tình yêu của họ, là sức mạnh giúp họ chung thủy với nhau”[135].

c.      Hôn nhân gia đình với Bí Tích Thánh Thể

Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch tình yêu, mời gọi vợ chồng trở nên một thân thể duy nhất và chia sẻ cho nhau. Năng đến với bí tích Thánh Thể, vợ chồng sẽ được Chúa Giêsu biến đổi để trở nên tấm bánh tình yêu bẻ ra trao tặng cho nhau: tấm bánh của sự sống, của niềm vui, của tha thứ và của sự tâm đầu ý hợp.

Bí tích Thánh Thể chính là nguồn mạch của hôn nhân Ki-tô giáo. Quả thế, hy lễ Thánh Thể diễn lại giao ước tình yêu giữa Đức Ki-tô và Hội Thánh, vì giao ước ấy đã được ký kết bằng máu của Người trên thập giá. Chính trong hy lễ của Giao ước mới và vĩnh cửu ấy mà các đôi bạn Ki-tô hữu tìm được nguồn mạch tuôn trào làm cho giao ước hôn nhân của họ được khuôn đúc từ bên trong và được sinh động bền bỉ. Vì là sự diễn lại hy lễ tình yêu của Đức Ki-tô đối với Hội Thánh, Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch đức ái. Nơi ân huệ Thánh Thể là bí tích của Đức ái, gia đình Ki-tô hữu gặp được nền tảng và linh hồn cho sự hiệp thông và cho sứ mạng của mình: Bánh Thánh Thể làm cho những phần tử khác nhau của cộng đồng gia đình trở nên một thân thể duy nhất, một hình ảnh diễn tả và một sự tham dự vào Thân mình "bị phó nộp" và vào Máu "đã đổ ra" của Đức Ki-tô sẽ trở nên một nguồn mạch bất tận cho gia đình Ki-tô hữu đến múc lấy năng lực cho hoạt động thừa sai và tông đồ[136].

d.      Hôn nhân gia đình với Bí Tích Hòa Giải

Trong suốt quá trình chung sống với nhau, đôi bạn sẽ không sao tránh được những khuyết điểm, thiếu sót. Những sai sót về tình yêu, về lòng trung thành, về đức nhẫn nại… có thể làm họ chán nản. Bấy giờ, bí tích Hòa Giải sẽ xóa đi những lỗi lầm ấy và ban nhiều ơn giúp đôi bạn phấn khởi vững bước trong cuộc sống hôn nhân, với nhiều cố gắng mới. Cũng nhờ bí tích Hòa Giải, họ ý thức được những buồn phiền đã gây ra cho nhau, từ đó trở nên xả kỷ và quảng đại hơn; họ cũng phấn đấu sống hòa hợp với các phần tử khác trong gia đình và lối xóm. Việc cử hành bí tích này có được một ý nghĩa đặc biệt trong đời sống gia đình: qua đức tin, đôi bạn và mọi thành phần trong gia đình khám phá được rằng, tội lỗi chống lại giao ước với Thiên Chúa cũng như giao ước giữa đôi bạn và sự hiệp thông gia đình; giờ đây họ được đưa đến gặp gỡ Thiên Chúa "giàu lòng nhân từ", là Đấng tái lập và hoàn thiện giao ước hôn nhân và sự hiệp thông trong gia đình khi Ngài ban cho ta tình yêu của Ngài, một tình yêu mạnh hơn tội lỗi[137].

 

e.      Hôn nhân gia đình với Bí Tích Truyền Chức Thánh

Bí tích Hôn Phối và bí tích Truyền Chức Thánh là hai bí tích phục vụ cộng đoàn do chính Chúa Giêsu thiết lập. Bí tích Hôn Phối gia tăng con cái trong Hội Thánh, bí tích Truyền Chức Thánh tuyển chọn các thừa tác viên phục vụ Hội Thánh. Chính ơn gọi làm Linh mục được gieo mầm từ trong gia đình, nên gia đình được gọi là “ Chủng Viện sơ khởi”[138].

Hội Thánh mong ước rằng không những các đôi vợ chồng quan tâm nâng đỡ các ơn gọi Linh mục và tu sĩ, mà còn tha thiết muốn dâng con cái mình làm việc tông đồ phụng sự Chúa. Do đó, Công Đồng Vaticanô II khuyên: “ Cha mẹ hãy thận trọng giúp đỡ con cái lựa chọn ơn gọi. Nếu thấy chúng có ơn thiên triệu, họ hãy thận trọng nuôi dưỡng ơn thiên triệu đó”[139].

f.       Hôn nhân gia đình với Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân

Trong khi cử hành bí tích Hôn Phối, đôi bạn hứa chung thủy với nhau cho đến chết. Cái chết niêm ấn lòng chung thủy trọn vẹn của họ. Trước biên giới của sự sống và cái chết, bí tích Xức Dầu giúp người tín hữu kết thúc đoạn đường lữ hành và sẵn sàng bước vào cuộc sống vĩnh cửu. Trên giường hấp hối, đôi bạn thấu triệt được vẻ cao đẹp của cuộc sống chung đầy ý nghĩa của mình. Đó là cuộc đồng hành với Đức Kitô, là thời gian thử thách và tinh luyện tình yêu, là đoạn đường dẫn đến cuộc sống mai hậu đầy hạnh phúc. Do đó, hãy liệu cho bệnh nhân lãnh nhận bí tích này lúc còn tỉnh táo[140].

 

II.            Chuẩn Bị Hôn Nhân Gia Đình

Việt Nam đang sống trong thời kỳ mở cửa kinh tế thị trường, hoàn cảnh xã hội đang có nhiều đổi thay; các nền văn hóa, lối sống tự do đang tiếp tục ảnh hưởng tới giới trẻ Việt Nam. Sự thay đổi này đòi hỏi những người có trách nhiệm, đặc biệt là các Mục Tử có bổn phận khẩn thiết để giúp đỡ các bạn trẻ khám phá và sống tình yêu hôn nhân gia đình như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II dạy: “Vào thời chúng ta, việc chuẩn bị cho các bạn trẻ bước vào hôn nhân và đời sống gia đình càng cần thiết hơn bao giờ hết. Ở một số nước, các gia đình, theo những tập tục cổ truyền vẫn còn giữ được vai trò truyền đạt cho các bạn trẻ những giá trị liên hệ tới đời sống hôn nhân và gia đình, bằng một hệ thống giáo dục hay khai tâm tiệm tiến. Nhưng những thay đổi dồn dập trong lòng hầu hết các xã hội tân tiến đòi hỏi không những chỉ gia đình mà cả xã hội và Hội Thánh đều phải dấn thân vào nỗ lực chuẩn bị tương xứng, để các bạn trẻ có thể cáng đáng các trách nhiệm trong tương lai. Nhiều hiện tượng tiêu cực trong đời sống gia đình mà ngày nay người ta than phiền, đã xuất phát từ sự kiện, đó là trong những hoàn cảnh mới, các bạn trẻ không còn nhận ra được phẩm trật đúng đắn của các giá trị và vì không còn những tiêu chuẩn chắc chắn để xử thế, họ không còn biết làm sao để đương đầu và giải quyết các khó khăn mới. Kinh nghiệm cho thấy được rằng, các bạn trẻ được chuẩn bị chu đáo cho đời sống gia đình, cách chung sẽ thành công hơn các bạn khác. Điều đó còn đúng hơn nữa cho hôn nhân Ki-tô giáo, vốn có ảnh hưởng rất rộng đối với sự thánh thiện của biết bao người nam người nữ. Vì thế Hội Thánh phải cổ võ những chương trình chuẩn bị hôn nhân phong phú và hữu hiệu, để hết sức loại trừ những khó khăn mà trong đó biết bao gia đình đang phải chiến đấu, và hơn nữa, để tích cực dẫn đưa các cuộc hôn nhân đến chỗ thành công và trưởng thành trọn vẹn”[141].

           Tại Việt Nam, việc giáo dục các bạn trẻ về giáo lý hôn nhân và đời sống gia đình đã được thực hiện khá tốt trong các giáo xứ. Tuy nhiên, kết quả của việc chuẩn bị này cũng đang còn có những hạn chế. Vì vậy, việc chuẩn bị hôn nhân cho các bạn trẻ cần được thực hiện cách liên tục và theo một tiến trình nhất định. Tiến trình này có thể chia thành các thời kỳ: Chuẩn bị xa, chuẩn bị gần, chuẩn bị trực tiếp và mục vụ sau hôn lễ.

1.              Chuẩn bị xa

Việc chuẩn bị xa bao gồm việc huấn giáo cho cộng đồng tín hữu về mục đích và ý nghĩa của hôn nhân, thiên chức của gia đình Kitô giáo. Do đó, ngay từ thời thơ ấu cần dạy cho các em lòng quí chuộng đối với mọi giá trị nhân bản đích thực, và đặc biệt đối với các Ki-tô hữu, còn phải có một sự đào tạo vững chắc về đời sống thiêng liêng và giáo lý, để hiểu được rằng hôn nhân là một ơn gọi và là một sứ mạng đích thực, nhưng vẫn không loại trừ khả năng tận hiến cho Thiên Chúa trong ơn gọi linh mục hoặc tu sĩ. Khi các em lớn lên, cần huấn giáo cho các em về đời sống gia đình, giáo lý hôn nhân gia đình. Cụ thể như sau:

a.     Nguồn gốc của hôn nhân là chính Thiên Chúa.

     Hôn nhân xuất hiện ngay từ khởi đầu công trình sáng tạo và do ý muốn của Thiên Chúa. Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã không dựng nên con người cô độc, hoặc chỉ là nam, hoặc chỉ là nữ, nhưng Ngài đã dựng nên con người có nam, có nữ và đã tác hợp họ nên vợ chồng, thành “ một xương một thịt”[142]. Thiên Chúa là Đấng tác tạo hôn nhân và đã khắc ghi ơn gọi hôn nhân vào trong bản tính của con người khi tạo dựng nên họ có nam có nữ[143].

 

b.    Mục đích của hôn nhân Công Giáo

-       Trọn đời yêu thương và bổ túc cho nhau

-       Sinh sản và giáo dục con cái

c.     Đặc tính của hôn nhân Công Giáo

-       Đơn hôn ( một vợ một chồng )

-       Bất khả phân ly ( Không thể ly dị )

d.    Điều kiện để cử hành bí tích Hôn Phối [144]

Để bí tích Hôn Phối thành sự, cần có những điều kiện sau đây:

-       Không mắc ngăn trở theo Giáo Luật

-       Hoàn toàn tự do để tỏ bày sự ưng thuận kết hôn

-       Hôn nhân được cử hành theo thể thức của Hội Thánh

e.     Những ngăn trở tiêu hôn làm cho hôn nhân không thành sự[145]

Giáo luật qui định 12 ngăn trở tiêu hôn:

+ Ngăn trở do chưa đủ tuổi kết hôn ( GL 1108;1083 ): Nam chưa đủ 16 tuổi tròn, nữ chưa đủ 14 tuổi tròn, nếu không xin phép chuẩn miễn trước, sẽ kết hôn bất thành. Hội đồng Giám mục có quyền ấn định tuổi lớn hơn tùy theo địa phương để kết hôn hợp pháp. Luật hôn nhân của Việt Nam qui định nam từ  20, nữ từ 18 tuổi mới được kết hôn.

+ Ngăn trở do Bất lực (Gl. 1084) : Người bị bất lực giao hợp có trước khi kết hôn và vĩnh viễn, về phía người nam hoặc về phía người nữ,  tuyệt đối hoặc tương đối, tự bản tính của nó khiến cho hôn phối bất thành. Hội thánh không chuẩn miễn ngăn trở này được vì là ngăn trở tự nhiên. Sự son sẻ không phải là ngăn trở bất lực. Nếu sự bất lực chỉ là hồ nghi, thì hôn phối thành (Gl. 1060).

+ Ngăn trở do Dây hôn phối (Gl. 1085) : Người còn bị ràng buộc bởi một hôn phối trước, cho dù chưa hoàn hợp hoặc đang xin Tòa án đạo giải quyết về tính bất thành phép của nó thì không thể kết hôn thành sự. Giáo hội không chuẩn miễn ngăn trở dây hôn phối được, vì thuộc loại ngăn trở tự nhiên và thiên luật, liên quan đến tính bất khả phân ly và tính duy nhất của hôn phối (Gl. 1056). Một khi đã kết hôn rồi, thì phải sống với người phối ngẫu cho đến chết.

+ Ngăn trở do khác biệt tôn giáo (Gl. 1086) : Hôn phối sẽ vô hiệu giữa một người đã được rửa tội trong Giáo Hội Công Giáo hay đã được nhận vào Giáo Hội Công Giáo và chưa công khai bỏ Giáo Hội với một người không rửa tội. Giáo Hội không được chuẩn miễn ngăn trở này nếu chưa chu toàn những điều kiện nói ở trong các điều 1125 và 1126.

+ Ngăn trở do Chức Thánh (Gl. 1087) : Người có chức thánh không thể kết hôn thành sự. Những người có chức thánh gồm : phó tế, linh mục và giám mục .

+ Ngăn trở do Khấn dòng (Gl. 1088) : Ai đã gia nhập một dòng tu bằng lời khấn công khai giữ khiết tịnh trọn đời, không thể kết hôn thành sự. Những phần tử của các tu hội đời và các hội dòng tông đồ thì không bị chi phối bởi luật này. Đấng Bản quyền địa phương chỉ có thể chuẩn miễn cho các tu sĩ thuộc dòng giáo phận, còn các tu sĩ thuộc dòng giáo hoàng phải làm đơn lên Tòa thánh. Trong trường hợp nguy tử, Đấng Bản quyền địa phương có thể chuẩn miễn cho cả các tu sĩ thuộc dòng giáo hoàng.

+ Ngăn trở do bắt cóc (Gl. 1089) : Hôn phối vô hiệu giữa người nam với người nữ  bị bắt cóc, hay bị giam giữ với mưu đồ ép buộc kết hôn.

+ Ngăn trở do Tội ác (Gl. 1090) : Người nào với chủ ý kết hôn với một người nào đó, đã giết người phối ngẫu của người đó hay người phối ngẫu của mình, thì hôn phối với người đó sẽ bất thành.

+ Ngăn trở do Huyết tộc (Gl. 1091): Theo hàng dọc ( trực hệ ): hôn nhân bất thành giữa mọi người trong họ máu hàng dọc. Theo hàng ngang ( bàng hệ ): hôn nhân bất thành cho đến hết bốn bậc.

+ Ngăn trở do họ kết bạn (Gl. 1092) : họ kết bạn là dây liên hệ họ hàng do hôn nhân tạo ra. Hôn thuộc  theo hàng dọc, dù ở cấp nào, cũng tiêu hủy hôn phối. Ngăn trở này có thể được miễn chuẩn. Trong bàng hệ, không có ngăn trở.

+ Ngăn trở do Công hạnh (Gl. 1093) : Ngăn trở công hạnh phát sinh do hôn nhân vô hiệu sau khi hai người đã sống chung với nhau, hoặc do hai người nam nữ sống chung với nhau một cách công khai mà không có hôn thú. Ngăn trở thích tộc bắt nguồn từ giá thú thành sự, còn ngăn trở công hạnh thì không có giá thú hay giá thú của họ vô hiệu. Hôn nhân sẽ bất thành giữa người đàn ông với mẹ hay con gái của người đàn bà, hoặc giữa người đàn bà với cha và con trai của người đàn ông. Ngăn trở này có thể được chuẩn miễn.

+ Ngăn trở do Pháp tộc (Gl. 1094) : Hôn phối sẽ vô hiệu giữa những người thân thuộc do pháp tộc đã được pháp luật nhìn nhận, trong trực hệ hay trong cấp thứ hai của bàng hệ. Có nghĩa là hôn nhân sẽ vô hiệu giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, cũng như với ông bà cha mẹ con cháu của người con nuôi (trực hệ). Hôn nhân cũng bất thành giữa những người con nuôi cùng dưỡng phụ hay dưỡng mẫu; giữa những người con nuôi với những người con ruột của người nuôi (bàng hệ). Ngăn trở loại này phát sinh do việc nhận con nuôi, được pháp luật nhìn nhận. Khi pháp tộc không còn, thì ngăn trở cũng hết. Ở đâu pháp luật không nhìn nhận việc nhận con nuôi, thì ngăn trở này không có. 

Khi mắc những ngăn trở nói trên, cần có phép chuẩn của bản quyền thì hôn nhân mới thành sự.

f.       Những khác biệt trong mối tương giao tâm lý giữa người nam và người nữ [146]

Để đạt mục đích tương trợ tình yêu và trong cuộc sống, đôi bạn cần hiểu biết những khác biệt tâm lý của nhau. Người nam và người nữ có những nét tâm lý khác nhau. Những nét khác nhau ấy không loại trừ nhau, nhưng bổ túc cho nhau. Sau đây là 5 định luật tâm lý:

-       Luật ưu tiên

+ Nơi người nam: thể xác (sắc diện) chiếm địa vị ưu tiên.

+Nơi người nữ : trái tim (tình yêu) chiếm ưu thế.

Người nam khi nghĩ về người nữ, thường hình dung một thân hình thẩm mỹ. Anh chú trọng trước tiên tới cái đẹp thân xác và coi đó như cái chính yếu. Còn cái đẹp tâm hồn của chị, anh nghĩ tới sau.

Người nữ khi nghĩ tới người nam, chị thường tưởng tượng đến trước hết những đức tính của anh, nào là anh đứng đắn, đơn giản, hiền lành, nhiều nghị lực … Cũng còn có nghĩa là người nữ nhìn mọi sự, phán đoán mọi sự dưới lăng kính tình cảm của mình hơn là dưới ánh sáng lý trí.

Do vậy, người nam hãy nhớ bạn mình cần đến tình yêu chân thành, sâu sắc, tế nhị. Hãy săn sóc tình cảm của vợ bằng những lời âu yếm, những cử chỉ thân thương … Người nữ đừng quên khía cạnh sắc diện là yếu tố ràng buộc chồng mình. Hãy gìn giữ dáng nét của mình vì chồng. Hãy biết săn sóc nhu cầu vật chất của chồng…

-       Luật phân cách  

+ Nơi người nam : Trái tim nhiều ngăn.

+ Nơi người nữ : Trái tim một ngăn.

Quan niệm sống của người nam: Ngoài tình yêu, người nam còn nghĩ đến nhiều chuyện: công danh, nghề nghiệp, giải trí, bạn bè ... Đôi khi các ngăn này như biệt lập nhau, khiến chị không sao hiểu nổi anh. Chẳng hạn khi anh chăm chú vào công việc, xem ra anh quên tất cả, quên cả chị… Điều này làm chị khó chịu.

Quan niệm sống của người nữ : Một trái tim, một tình yêu, yêu chồng, yêu con. Mối tình lớn lao ấy xâm chiếm hoàn toàn con người chị. Trái tim chị chỉ chứa đựng người yêu, mọi cái khác, công danh, giải trí … như bị đẩy ra bên lề trái tim (người ta gọi là một ngăn).

Do đó, đôi bạn phải biết trao đổi với nhau những vấn đề căn bản của cuộc sống chung như nhân cách, tổ chức gia đình, công ăn việc làm, giao tế xã hội, sinh sản giáo dục con cái, đời sống tôn giáo, giải trí … Biết những điều ấy để người vợ khỏi tủi khi thấy chồng như chỉ chú ý vào công việc mà bỏ rơi chị; để người chồng biết chăm sóc đời sống tình cảm của vợ hơn; để mỗi bên biết hy sinh sở thích vì lợi ích gia đình, nhưng không phải vì thế mà đánh mất đi sắc thái riêng tư. Mỗi người hãy giữ bản lĩnh của mình mà làm phong phú đời sống chung.

-       Luật chi tiết :

+Người nam: Thích cái tổng quát, đại sự, dễ bỏ qua các chi tiết vụn vặt.

+Người nữ : Để mắt tới từng khía cạnh bé nhỏ, nhiều khi vì đó mà không nhìn hết cả vấn đề.

Người nam thường nhìn tổng quát và tiến thẳng tới vấn đề chính yếu. Anh phác họa rõ ràng chương trình hành động, lý luận vững chắc.

Chị lại lưu tâm đến những cái nhỏ bé, chi tiết, một sự kiện nhỏ cũng có thể trở thành quan trọng.

Sự khác biệt tâm lý này thường là nguyên do cho nhiều vui buồn, sướng khổ trong đời sống đôi bạn. Do vậy, người chồng không nên quên các chi tiết có thể mang hạnh phúc tới cho vợ mình: một cái nhìn khích lệ, một lời khen, một món quà nhỏ, một cử chỉ yêu thương … Ngược lại, người vợ cũng đừng quá tỉ mỉ với chồng, dặn dò từng chi tiết, lặp đi lặp lại những lỗi lầm nhỏ nhặt. Chị nên bớt đi những cái vụn vặt chỉ làm chồng bực dọc, khó chịu.

-       Luật bất đồng cảm

+ Người nam : Phản ứng bồng bột, sôi nổi, mau bốc, nhưng cũng mau tàn.

+ Người nữ : Phản ứng chậm chạp, êm đềm, chậm bốc, chậm tàn.

Trước một sự cố, người nam thường phản ứng tức khắc mãnh liệt, nhưng cũng dễ nguội, dễ hạ. Chính vì thế ta thường thấy “tiếng sét ái tình” xảy ra cho nhiều thanh niên hơn là cho thiếu nữ.

Người nữ thì  phản ứng chậm chạp hơn, song khi phát lộ thì gia tăng rất nhiều và phải nhiều thời gian mới trở lại bình thường.

Biết rằng đàn ông dễ nổi nóng, dễ phản ứng tức thời, mạnh bạo, chị sẽ tránh những lời nói hoặc cử chỉ như đổ dầu vào lửa, biết dùng sự khả ái trời cho để làm dịu tình thế. Còn anh, nên tỉnh táo trước dáng vẻ bình thản của chị kẻo có lúc anh không ngăn được những phản ứng quyết liệt như vũ bão của chị.

-       Luật thính giác

+ Người nam : Trầm ngâm.

+ Người nữ : Thích nghe lời âu yếm.

Người nữ thường thích nghe những lời âu yếm, tán tỉnh. Các lời người ta nói thường làm người nữ chú ý hơn là việc người ta làm. Người nam lại thích trầm ngâm, ít nói, nhất là khi ở nhà.

Người chồng phải năng nhắc lại những kỷ niệm êm đềm năm xưa, nói với giọng nhẹ nhàng, âu yếm, kính trọng. Người nữ thích sống lại dĩ vãng đó. Cần có đối thoại giữa vợ chồng. Yêu là nói, là nghe, là cởi mở tâm hồn mình và đón nhận người khác. Còn chị, hãy biết tôn trọng chồng khi anh đang bận tâm một chuyện nào đó.

g.     Vấn đề tính dục trong hôn nhân gia đình

Nhiều người lầm tưởng tình dục là tình yêu, vì vậy nhiều bạn trẻ nghĩa rằng, để biểu lộ tình yêu thì nhất thiết phải thể hiện hành vi tính dục. Đó là một hiểu lầm tai hại, đã đưa đến bao hậu quả nghiệm trọng ảnh hưởng đến nền luân lý Kitô giáo, bao nhiêu trẻ em chưa kịp cất tiếng khóc chào đời đã bị giết chết vì sự hiểu lầm này.

Tình dục chỉ có thể đạt tới mục đích của nó khi nó được thực hiện trong hôn nhân. Mọi hành vi thuộc tình dục ngoài hôn nhân được coi là bất hợp pháp. Nó là tội ác khi một người chiếm đoạt khoái lạc cách bất hợp pháp qua sự cưỡng dâm dựa trên sức mạnh thể lý, luân lý hay quyền hành địa vị đối với phụ nữ hay trẻ em, trong gia đình (loạn dâm) hay ngoài gia đình (hiếp dâm). Tìm cách giải tỏa xung năng tính dục bằng cách giao hợp với thú vật (thú dâm), tìm kích dục qua việc hành hạ người khác (bạo dâm), tìm kích dục khi chịu đựng sự hành hạ của người khác (khổ dâm), tìm kích dục qua những vật dụng (vật dâm), lôi cuốn người khác vào thực hành tính dục (khiêu dâm)…đều cho thấy sự suy đồi hay rối loạn nghiêm trọng về mặt tâm lý nơi đương sự. Do đó Thánh Phaolô đã không ngần ngại khuyên nhủ:"Đàn ông không gần đàn bà là điều tốt. Nhưng để tránh hiểm họa dâm ô, thì mỗi người hãy có vợ có chồng”[147]. Rõ ràng, theo thánh Phaolô, tình dục là hành vi thuộc đời sống hôn nhân, và chỉ trong hôn nhân hành vi tình dục mới được bày tỏ mà thôi.

Tình dục không phải là tình yêu, nhưng trong tình yêu phải có tính dục. Tính dục trong tình yêu là một động lực thúc đẩy hướng về nhau, một sự khao khát chiếm đoạt, chính động lực này thúc đẩy hai người nam nữ tìm đến nhau, nhưng đó chỉ mới là khởi điểm của hành trình tình yêu. Cuộc hành trình đó sẽ đạt tới đỉnh điểm khi hai người tự trao hiến chính mình làm quà tặng tình yêu[148]. Sự trao hiến này không là một hành vi chiếm đoạt để thỏa mãn, nhưng là “nhắm đến một sự hiệp nhất sâu xa về ngôi vị, một sự hiệp nhất, vượt qua sự kết hợp thành một thân xác, đưa đến chỗ chỉ còn một trái tim, một linh hồn; tình yêu ấy đòi hỏi sự bất khả phân ly và sự trung thành trong việc trao hiến cho nhau một cách dứt khoát, mở ngõ cho việc sinh sản”[149].  Và “Tình yêu ấy có đặc tính nhân linh cao cả vì từ một nhân vị hướng đến một nhân vị khác bằng một tình cảm tự ý, do đó bao gồm hạnh phúc toàn diện của con người…. Vì vậy, tình yêu vợ chồng vượt xa xu hướng nhục dục thuần túy, và xu hướng này, nếu được tôn thờ một cách ích kỷ, sẽ mau chóng tan biến và kéo theo những hậu quả thảm hại”[150].

            Tính dục của con người là một điều thiện hảo : Đó là một phần của quà tặng sáng tạo mà Thiên Chúa nhìn thấy là “tốt” khi Người dựng con người theo hình ảnh và giống Người và Người dựng nên con người “có nam có nữ” [151]. Giới tính là con đường để con người đến gần kẻ khác và tự bộc lộ mình ra cho kẻ khác, và như thế mục đích chính của nó là tình yêu, nói rõ hơn, tình yêu như quà tặng và đón nhận, như cho và nhận. Tương quan giữa người nam và người nữ theo bản chất của nó là tương quan của tình yêu : “Tính dục phải được tình yêu định hướng, giáo dục và bổ túc, vì chỉ có tình yêu mới giúp cho tính dục mang tính nhân bản”. Khi một tình yêu như thế hiện thực trong hôn nhân, sẽ làm cho sự tự hiến qua thể xác nổi bật lên tính trao đổi và trọn vẹn của quà tặng; tình yêu vợ chồng trở thành một sức mạnh làm phong phú và giúp cho con người phát triển, đồng thời bồi dưỡng cho văn minh tình yêu; nhưng nếu ngược lại, thì tính dục sẽ mất đi ý nghĩa và từ đó xuất phát một thứ văn minh của “đối tượng” chứ không phải văn minh của con người; trong thứ văn minh này con người bị sử dụng như người ta sử dụng các đồ vật. Trong khung của văn minh hưởng thụ người nữ trở thành đối tượng sử dụng của đàn ông, con cái trở thành phiền toái cho cha mẹ[152]. Và như vậy, người ta hủy hoại cái đẹp của nó bằng cách dùng nó trái với kế hoạch của Thiên Chúa.

2.              Chuẩn bị gần

Việc chuẩn bị gần dành riêng cho những người sắp kết hôn để họ được sửa soạn lãnh nhận sự thánh thiện và những bổn phận của bậc sống mới. Tại nhiều nơi, họ buộc phải dự một khóa chuẩn bị hôn nhân được tổ chức ở cấp giáo hạt  hay giáo phận, trong đó họ sẽ tham dự những buổi thuyết trình về những khía cạnh khác nhau của đời sống hôn nhân. Ở đâu không thể tổ chức những khóa như vậy, thì cha sở hay người được ủy nhiệm sẽ tổ chức những cuộc gặp gỡ từng đôi hay tất cả những đôi sắp kết hôn. Trong phần này, người viết chỉ bàn đến việc sinh sản giáo dục con cái và điều hòa sinh sản.

 

      2.1.  Sinh sản và giáo dục con cái

a.      Để sinh sản có trách nhiệm, vợ chồng kitô hữu cần phải:

-        Biết làm chủ bản năng tính dục của mình.

-        Biết tôn trọng lẫn nhau.

-        Biết rõ hoàn cảnh của mình để quyết định sinh con hay tạm ngừng lại.

-        Phải dùng cách thức ngừa thai tự nhiên.

-        Biết tin tưởng vào Chúa để đón nhận những đứa con ngoài ý muốn.

  • Giáo dục con cái

Giáo dục con cái là hướng dẫn và giúp đỡ chúng phát triển toàn diện con người. Việc giáo dục này là quyền lợi và bổn phận của cha mẹ, không ai có thể thay thế được. Giáo dục con cái còn là vinh dự của cha mẹ Công giáo vì khi thi hành bổn phận giáo dục, họ biết mình cộng tác với tình yêu Thiên Chúa và trở thành người diễn đạt tình yêu của Người[153] .

    b.1. Muốn giáo dục thành công, cha mẹ cần lưu ý mấy điểm quan trọng này:

           Cha mẹ phải thăng tiến chính bản thân bằng cách nêu gương đời sống cao đẹp về nhân cách, đạo đức và những khả năng khác, vì “cha mẹ hiền lành để đức cho con”.

Cha mẹ phải nhất trí trong đường hướng và phương thức giáo dục con cái: Tìm hiểu tính tình, năng khiếu của con cái và phải biết dùng phương thức thích hợp giúp chúng đạt mục đích.

 Tạo bầu khí gia đình lành mạnh, cởi mở, thánh thiện, mọi người sống hòa thuận và biết tín nhiệm nhau.   

    b.2. Những mục tiêu giáo dục

- Gia đình, nhà giáo dục đức tin đầu tiên

Cha mẹ được mời gọi để biến tình thương con cái thành dấu chỉ hữu hình cho chúng nhận ra được tình yêu của Thiên Chúa là ‘nguồn gốc mọi tình phụ tử trên trời đưới đất’[154]. Thiên chức làm cha mẹ nhắn nhủ những bậc phụ huynh có trách nhiệm thông truyền đức tin cho các thế hệ kế tiếp. Chính cha mẹ là những giáo lý viên đầu tiên cho con cái. Hãy giới thiệu cho con cái biết Thiên Chúa ngay khi con còn bé qua những lời nguyện bập bẹ đơn sơ và cử chỉ đơn giản như làm dấu Thánh Giá, vòng tay, cúi đầu.... Những lời cầu nguyện ngắn gọn, những nội dung giáo lý căn bản, những câu chuyện lấy từ Thánh Kinh, nếu được cha mẹ ân cần chỉ bảo, sẽ tạo nơi các em một nền tảng giáo lý vững chắc và một đời sống thiêng liêng sâu đậm sau này. Trách nhiệm của cha mẹ không dừng lại ở đó, mà còn thể hiện qua việc hướng dẫn, nhắc nhở con em mình đi học giáo lý, tham gia các hội đoàn đạo đức để trưởng thành hơn trong đời sống đức tin[155].

Gia đình là Giáo Hội tại gia, là trường học đầu tiên và căn bản trong nền giáo dục Kitô giáo. Nơi đây, đức tin được truyền thụ qua những lời cầu nguyện, lời nhủ bảo, đặc biệt trong những biến cố vui buồn của cuộc sống và qua những mẫu gương đức tin của ông bà, cha mẹ. Gia đình còn là “chiếc nôi của sự sống và tình yêu” [156] giúp các phần tử  trong gia đình cảm nghiệm tình yêu và lòng trung thành với Thiên Chúa, đồng thời cũng giúp hình dung trước những mối tương quan liên vị trong xã hội[157].

      -  Gia đình, nhà giáo dục sự thật về con người

Vấn đề quan trọng nhất mà gia đình Kitô hữu ngày nay phải đối diện trong công cuộc giáo dục con cái mình không phải là vấn đề tôn giáo mà chủ yếu là vấn đề về con người: chủ nghĩa tương đối cực đoan về đạo đức, triết học. Đối với những người theo chủ nghĩa này, không có chân lý khách quan về con người, và do đó không có chân lý về hôn nhân và gia đình. Nền tảng của sự khác biệt giới tính mà sinh học biểu lộ nơi người nam và người nữ không đặt trên tự nhiên nhưng được xem như chỉ là một sản phẩm của văn hóa mà mỗi người có thể thay đổi tùy theo quan niệm của mình. Như thế, họ chối bỏ và phá hủy chính định chế hôn nhân và gia đình[158].

Đứng trước tình hình thực tế rất quyết liệt và có sức tác động rộng lớn đó gia đình ngày nay có một nhiệm vụ không thể tránh né được đó là phải thông truyền cho con cái mình sự thật về con người. Giúp con cái  hiểu biết những trang đầu của sách Sáng thế: có một Thiên Chúa ngôi vị và thiện hảo đã tạo dựng con người, có nam có nữ, cùng một phẩm giá nhưng khác biệt và để bổ túc cho nhau, và trao cho họ nhiệm vụ sinh con cái nhờ một sự kết hợp bất khả phân ly hai người nên “một xương một thịt”. Do đó, sự sống của con người phải được tuyệt đối tôn trọng và bảo vệ ngay từ lúc thụ thai. Ngay khi bắt đầu hiện hữu, con người phải được kẻ khác nhìn nhận các quyền làm người, trong đó quyền được sống là bất khả xâm phạm.

-  Gia đình, nhà nhà giáo dục phẩm giá và kính trọng nhân vị

Hội thánh nhìn thấy nơi con người, nơi từng người, hình ảnh sống động của chính Thiên Chúa; một hình ảnh mà chúng ta được mời gọi khám phá mỗi ngày một sâu sắc hơn và chỉ thấy được sự viên mãn của hình ảnh ấy trong mầu nhiệm Đức Kitô. Đức Kitô mạc khải Thiên Chúa cho chúng ta trong sự thật của Người; nhưng đồng thời cũng bày tỏ con người cho chính con người. Con người này đã đón nhận từ Thiên Chúa một phẩm giá khôn sánh, vì nó đã được tạo dựng theo hình ảnh và họa ảnh của Ngài và được nhận làm con Thiên Chúa. Đức Kitô bởi Nhập thể, đã kết hợp làm một với con người. Vì đã được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, con người mang phẩm giá của một ngôi vị: con người không chỉ là một cái gì nhưng là một ai đó. Con người có khả năng nhận biết chính mình, trao hiến chính mình trong sự tự do, và đi vào hiệp thông với những ngôi vị khác. Mối tương quan có thể không được biết đến, không được nhớ đến hay bị chối từ nhưng hoàn toàn không bao giờ có thể bị tước bỏ, bởi lẽ con người là một hữu thể có ngôi vị được Thiên Chúa dựng nên để tương quan và sống với Ngài.

 Người nam và người nữ có cùng một phẩm giá như nhau vì cả hai đều là hình ảnh của Thiên Chúa, và hơn nữa còn vì họ cũng thực hiện chính mình một cách sâu sắc bằng cách gặp gỡ nhau như là những nhân vị qua việc họ thành tâm tự hiến cho nhau. Người nữ bổ túc cho người nam và người nam bổ túc cho người nữ. Nam và nữ bổ túc cho nhau, không chỉ về mặt thể lý và tâm lý, nhưng cả trên bình diện hữu thể học, bởi lẽ chính nhờ cái lưỡng tính “nam” và “nữ” đó mà “nhân tính” được thể hiện trọn vẹn.  Do đó, phẩm giá của từng con người không phụ thuộc vào bất kỳ một đòi hỏi nhân loại nào nhưng chỉ do chính hữu thể của mình được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Bởi thế không ai có thể ngược đãi nhân phẩm mà không xúc phạm nghiêm trọng đến trật tự Đấng Tạo Dựng đã muốn. Tương tự như thế, một xã hội ngay chính chỉ có thể hoàn thiện khi tôn trọng phẩm giá trổi vượt của con người.

Những người khuyết tật, dù khuyết tật đau đớn trên thân xác hay tâm thần, vẫn là những chủ thể con người đầy đủ, với những quyền và nghĩa vụ mà không ai được quyền xâm phạm tới hay kì thị. Những thai nhi chưa sinh ra cũng là con người ngay từ lúc tượng thai; sự sống của chúng cũng không thể bị hủy hoại do nạn phá thai hay thí nghiệm khoa học. Hủy hoại sự sống thai nhi, những con người hoàn toàn vô tội, là hành động xúc phạm cao nhất và có trách nhiệm nghiêm trọng nhất trước mặt Thiên Chúa[159].

-  Gia đình, nhà giáo dục đức ái

 Với những khủng hoảng gia đình trong xã hội hôm nay, chúng ta cần ý thức rằng từ ban đầu gia đình là cấu trúc của tình yêu và gia đình theo đúng thánh ý Chúa phải tồn tại và phát triển trong tình yêu. Do đó gia đình phải là môi trường giáo dục đặc biệt về tình yêu. Giáo dục đức tin phải đi đôi với giáo dục đức ái. Cần giáo dục tình yêu cho con cái biết yêu thương hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, biết yêu thương kính trọng bà con họ hàng, biết yêu thương và kính trọng mọi người. Cũng cần giáo dục con cái biết yêu thương, tôn trọng, nâng đỡ và hy sinh cho nhau. Con người không biết sống yêu thương trong gia đình thì không thể biết sống yêu thương đúng nghĩa trong các môi trường xã hội. Việc giáo dục đức ái cần phải kiên nhẫn và nhất là cần đến gương yêu thương giữa cha mẹ, giữa vợ chồng. Gương mẫu của giáo dục tình yêu chính là Gia Đình Thánh Gia, cao hơn nữa chính là gương Chúa Giêsu yêu thương và phục vụ Hội Thánh, yêu thương và hy sinh đến chết vì mỗi người chúng ta[160]. Thật lý tưởng khi mọi thành viên trong gia đình đều cảm nhận sâu xa là mình được mọi người trong gia đình yêu thương và tình yêu của mình được mọi người đón nhận, đáp trả. Có như thế, gia đình mới thực sự trở nên gương mẫu và phát sinh những con người thiện hảo.

 

       -  Gia đình, ngôi trường giáo dục nhân cách

Gia đình cũng chính là nơi hình thành nhân cách con người. Tình yêu vợ chồng không chỉ triển nở qua việc sinh con, mà còn qua việc giáo dục đời sống luân lý và tâm linh cho chúng nữa. Vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục quan trọng đến nỗi không gì thay thế được. Quyền và bổn phận giáo dục con cái là quyền và bổn phận căn bản, bất khả nhượng. Bởi vì bổn phận giáo dục gắn liền với việc truyền thông sự sống con người, do đó không thể thay thế hay chuyển nhượng cho bất kỳ ai.  Cha mẹ giáo dục trước tiên là trao ban cho con cái nhân tính của mình. Con cái nhận được nhân cách nơi cha mẹ qua việc cha mẹ xây dựng một mái ấm gia đình dựa trên tình âu yếm, lòng tha thứ, tôn trọng lẫn nhau, chung thủy và tinh thần phục vụ vô vị lợi, nhờ đó, con cái học biết hy sinh, phán đoán lành mạnh, tự chủ là những điều kiện cho tự do đích thực.

Khởi đầu lịch sử của một con người được viết từ gia đình. Lịch sử đó hoàn toàn lệ thuộc vào tình trạng của gia đình. Đó sẽ là một lịch sử tráng lệ huy hoàng nếu lịch sử đó được viết trong một gia đình thực sự là mái ấm, được bao phủ bởi một tình yêu đích thực. Nhưng sẽ là một lịch sử tồi tệ, đầy ắp bất hạnh khổ đau, nếu khởi đầu lịch sử đó được viết trong một gia đình chất chứa một tình yêu ích kỷ, thiếu cho đi mà chỉ vun quén; thiếu hy sinh và chỉ có đòi hỏi. Bởi đó những gì  phá đổ giá trị nền tảng gia đình chỉ đưa nhân loại đến bờ vực thẳm của sự hủy diệt. Gia đình là cái nôi của sự sống, nó đem lại sự sống và xây dựng một nền văn hóa của sự sống.

Qủa thật gia đình là trái tim của nền văn hóa sự sống. Do đó những thành viên trong gia đình chính là những con người của sự sống và là những con người cho sự sống. Những người đề cao sống tự do nhằm đến hưởng thụ ích kỷ cá nhân và vô trách nhiệm là kẻ thù của gia đình. Bởi họ đang gieo rắc một nền văn minh của sự chết, cướp đi những mầm sống hy vọng của gia đình, của xã hội con người. Trong một thế giới đang bị tục hóa hôm nay, Giáo Hội không ngớt mời gọi con cái của mình hãy can đảm đứng lên chống lại những mưu mô thủ đoạn nhằm làm băng hoại giá trị tốt đẹp của gia đình.

 

       - Gia đình, nơi giáo dục giới tính

Đây là một vấn đề phức tạp và tế nhị, nhưng không thể bỏ qua trong việc giáo dục. Ở từng lứa tuổi, trẻ em thắc mắc về nguồn gốc của chúng. Do đó, tùy hạn tuổi, cha mẹ cần giải thích cho chúng về những vấn đề ấy trong tình thân ái, tế nhị và trong sạch. Đó là bổn phận trước tiên của cha mẹ, vì cha mẹ hiểu con cái mình hơn, biết lúc nào chúng thắc mắc, biết giải đáp tới đâu là đủ cho chúng, biết lợi dụng cơ hội thuận tiện nhất. Nếu cha mẹ khước từ việc này, các em sẽ tò mò tìm hiểu nơi sách vở, báo chí thiếu đứng đắn, nơi bạn bè, phim ảnh … và hậu quả thật tai hại. Biết giáo dục đúng đắn và đúng lúc sẽ tạo được nơi các em thế quân bình, là điều cần thiết cho mọi thành công trên đường đời.

 

  - Gia đình, nơi giáo dục tương lai

Cha mẹ hướng dẫn các em biết nhìn về tương lai, vạch định một chí hướng cho đời mình. Giúp các em tập lựa chọn, dù lựa chọn ấy còn non yếu, nhưng rất ích lợi cho các lựa chọn quan trọng sau này. Nhắc nhở, tạo điều kiện để các em xác tín và trung thành với ý hướng và ơn gọi của mình.

     2.2  Điều hòa sinh sản [161]

Thông điệp Humanae Vitae nói rõ : “Cấm bất cứ hành động nào nhằm ngăn chặn sự sinh sản, dù như mục đích hay chỉ như phương tiện; dù có hành động như vậy trước lúc giao hợp hay khi việc vợ chồng đang tiến tới kết quả tự nhiên của nó”[162] . Nghĩa là không được dùng những phương pháp ngừa thai nhân tạo như: thuốc viên cản thụ thai, đặt vòng trong tử cung, mũ bịt cửa tử cung, bao cao su, thắt ống dẫn tinh hay dẫn trứng, xuất tinh ra ngoài âm đạo … Tuyệt đối cấm phá thai vì là giết người. Công đồng gọi phá thai là “tội ác ghê tởm”[163]. 

Giáo Hội chỉ chấp nhận biện pháp ngừa thai tự nhiên, vợ chồng chỉ giao hợp vào những ngày an toàn, không thụ thai, theo chu kỳ kinh nguyệt của người vợ.  Điểm then chốt để biết những ngày không thụ thai là tính toán dự đoán ngày trứng rụng, để không cho tinh trùng gặp được trứng mà thụ thai.

3.              Chuẩn bị trực tiếp

Việc chuẩn bị trực tiếp nhằm cử hành phụng vụ một cách tích cực, hợp pháp và sống động theo tinh thần Kitô giáo. 

3.1. Lãnh nhận các bí tích

Giáo luật đặt ra vài qui tắc không những nhằm giúp cho các đôi bạn được lãnh nhận dồi dào những ơn ích của bí tích hôn nhân, mà còn có khả năng trở thành những nhà giáo dục đức tin cho con cái mai sau. Bởi đó, theo điều 1065 thì :

- Nếu có thể được và không có khó khăn trầm trọng, thì những người chưa lãnh bí tích Thêm sức phải liệu lãnh bí tích ấy. Vì bí tích này nằm trong toàn bộ những bí tích khai tâm, đánh dấu sự trưởng thành đức tin. Giáo luật khuyến khích đôi bạn lãnh bí tích này vì họ sẽ là những chứng nhân và dạy dỗ đức tin cho con cái.

- Khuyên đôi bạn lãnh bí tích sám hối và Thánh Thể. Bí tích Sám Hối giúp họ sống trong ơn nghĩa của Chúa, sẵn sàng để cho ơn ích bí tích hôn nhân tác động. Còn về bí tích Thánh Thể, giáo luật không những khuyến khích cử hành hôn phối trong thánh lễ, mà còn muốn cho đôi bạn hiệp lễ để thông hiệp trọn vẹn hơn vào sự trao ban hiến tế của Đức Kitô, mà họ được kêu gọi diễn tả lại trong suốt cuộc sống vợ chồng.

3.2.  Điều tra và cử hành hôn phối

Nhằm bảo đảm cho việc kết hôn được hữu hiệu và hợp pháp, giáo luật dự trù những cuộc điều tra và thu thập tài liệu trong những điều khoản từ số 1066- 1070. Bộ giáo luật hiện hành để cho Hội đồng Giám mục xác nhận những thể thức cụ thể về việc khảo hạch và thu thập tài liệu tùy theo phong tục địa phương như được ghi trong điều 1067: “Hội Đồng Giám Mục phải ra những qui luật về việc khảo hạch đôi bạn, về việc rao hôn phối, và về những phương thế khác để hoàn tất công việc điều tra phải có trước khi kết hôn. Sau khi tuân hành kỹ lưỡng những điều đó, cha sở mới có thể tiến hành việc chứng giám hôn phối”.

Mặt khác, điều 1069 buộc các tín hữu phải báo cáo lên cha sở hay Bản quyền sở tại những ngăn trở mà họ biết được. Đây là một nghĩa vụ luân lý thuộc đức công bằng và bác ái, xét vì không những để tránh hôn phối khỏi trở thành vô hiệu hay bất hợp pháp, nhưng còn tránh cho hôn nhân khỏi nguy cơ tan vỡ. Tuy nhiên theo các học giả, nếu ai biết được ngăn trở do bí mật nghề nghiệp thì không buộc báo cáo, chỉ có cách là thuyết phục chính đương sự đừng tiến tới hôn nhân.

Cha sở chỉ có thể tiến hành việc cử hành hôn lễ khi đã thu thập những bằng chứng luật định. Trong trường hợp nguy tử theo điều 1068, nếu không thể thu thập những bằng chứng khác, và miễn là không có dấu chỉ nào trái ngược, thì chỉ cần đôi bạn cam kết, với lời thề rằng mình đã rửa tội và không vướng mắc ngăn trở.

Sau khi đã làm xong các thủ tục, Cha Xứ tiến hành cử hành hôn lễ cho đôi bạn theo luật Hội Thánh.

III.         Mục Vụ Sau Hôn Lễ Và Những Việc Cần Làm

  1. Mục vụ sau hôn lễ

Mục vụ hôn nhân không chấm dứt với lễ thành hôn. Cộng đồng được kêu gọi trợ giúp các đôi bạn qua những hình thức khác nhau, đặc biệt là các đôi vợ chồng trẻ trong những năm đầu đời của bậc sống gia đình. Cụ thể như sau:

-       Thường xuyên thăng tiến giáo lý hôn nhân gia đình.

-       Quan tâm chăm sóc mục vụ cho những gia đình bất hạnh: Ly dị, ly thân, HIV…

-       Tổ chức các buổi gặp gỡ, cầu nguyện và trao đổi kinh nghiệm giữa các gia đình với nhau.

-       Giúp đỡ các đôi vợ chồng trẻ, những gia đình vị thành niên.

-       Giáo dục đức tin, nhân bản qua các giờ giáo lý hoặc những buổi nói chuyện chuyên đề. Ngoài ra, nên khuyến khích, duy trì giờ kinh chung trong gia đình.

 

  1. Những việc cần làm

+ Các Giáo Phận nên có văn phòng mục vụ về hôn nhân và gia đình, để tư vấn cho các bạn trẻ khi họ cần được giúp đỡ. Văn phòng mục vụ này cần có sự hợp tác chặt chẽ của mọi thành phần dân Chúa. Nên phát triển tiềm năng của người giáo dân, mời gọi họ hợp tác không chỉ trong chuyên môn nhưng cả trong vai trò lãnh đạo để họ ý thức được sứ mệnh riêng của họ trong đời sống gia đình.

+ Người giáo dân trong Giáo Phận cần được các Linh mục giúp đỡ để thay đổi não trạng về việc học giáo lý :  Học giáo lý để hiểu và sống đạo đầy đủ hơn, chứ không phải là chỉ để chịu các Bí tích, nhất là trong trường hợp bí tích ấy là bí tích Hôn Phối . Coi việc học lớp chuẩn bị hôn nhân như một thủ tục bắt buộc không có không được.

+ Cần có một ủy ban xem và soạn lại để hoàn thiện Chương Trình Lớp Giáo Lý Chuẩn Bị Hôn Nhân về mặt nội dung, thời gian, phương pháp giảng dạy và nhân sự phục vụ các Lớp này.

+ Tổ chức các lớp giáo lý “sống đời hôn nhân” cho các cặp vợ chồng.

+ Tổ chức các sinh hoạt chuyên đề, các buổi trao đổi, cầu nguyện, tĩnh tâm riêng cho các cặp vợ chồng mừng  5, 10, 15, 20 năm đời sống gia đình.

+ Tạo môi trường thuận lợi cho các nhóm gia đình sống liên kết với nhau như các cộng đoàn và khuyến khích giáo dân gia nhập các phong trào, các tổ chức gia đình có sẵn trong Giáo Phận.

+ Ban Mục vụ Giáo Xứ có một bộ phận chuyên trách về hôn nhân gia đình, với sự cộng tác của các hội đoàn quan tâm đến tình trạng của các gia đình trong khu xóm, đặc biệt là các gia đình nghèo khổ, các gia đình bất thuận và các gia đình di dân để kịp thời giúp đỡ.

+ Quan tâm đến gia đình những người di cư, tạo cơ hội cho họ hòa nhập với môi trường sống của Giáo Xứ. Giúp đỡ những gia đình có người nghiện rượu, những gia đình bị bạo hành hay ngược đãi và nhất là những người già cả không nơi nương tựa.

 

KẾT LUẬN

Thay cho lời kết, người viết muốn lần nữa khẳng định rằng: Sức mạnh và sự ổn định của Giáo Hội cũng như xã hội phụ thuộc vào gia đình. Gia đình là nơi cưu mang di sản của nhân loại ,vì tương lai của nhân loại đi qua con đường gia đình. Gia đình là nơi mỗi thành viên được nuôi dưỡng về vật chất và tinh thần từ tấm bé, là chỗ dựa vững chắc để phát triển và hình thành nhân cách , ai đi đâu, dù xa hay gần cũng đều mong quay về gia đình. Nhưng thời nay, trong nhiều hoàn cảnh gia đình không còn là tổ ấm nữa. Tiến trình công nghiệp hoá sẽ làm cho xã hội đổi thay hơn trong tương lai; nền văn hoá tiêu thụ, kinh tế thị trường, lối sống đô thị với sự đề cao tự do cá nhân, cùng với những mặt trái của nó đã làm cho mối tương quan giữa cha mẹ và con cái chẳng còn được đầm ấm khắng khít như xưa. Những màn tranh cãi, ly dị… xảy ra như cơm bữa. Giá trị đích thực của gia đình đang có chiều hướng thoái hoá trầm trọng. Trách nhiệm giáo dục gia đình càng là một thách đố lớn. 

Ngày hôm  nay, người ta nói đến nguy cơ của những bạn trẻ tôn vinh và chấp nhận những thứ hôn nhân “đặc biệt” như : hôn nhân không cam kết, hôn nhân không mục đích, hôn nhân thử nghiệm, hôn nhân liền tay, hôn nhân tiền hôn hậu thú vv…Tất cả những “mác” hôn nhân ấy đang hấp dẫn nhiều bạn trẻ và đã gây không ít đau đớn, thất vọng cho họ ! Báo chí đã có nhiều phóng sự “buồn thảm” về thực trạng bi kịch của những “mốt” hôn nhân như thế. Quả đúng  như một danh nhân đã nói : “Họ mơ mộng khi yêu nhau và thức tỉnh khi lấy nhau”. Phải chăng đó là cái giá phải trả của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hay của sự đánh mất chính bản thân mình hoặc cả hai. Có lẽ trong cuộc sống đang có nhiều khủng hoảng và thách thức về những vấn đề hôn nhân gia đình, chúng ta tự thức tỉnh để nhìn lại mục đích, ơn gọi của hôn nhân gia đình là gì và tự hỏi nên làm gì để có thể bảo vệ, củng cố mái ấm càng ngày càng ấm êm hơn. Câu trả lời xin dành cho tất cả những ai có lòng thành tâm thiện chí muốn đào sâu thêm đề tài này để làm cho đời sống hôn nhân gia đình được thăng tiến. Xin dành cho từng người trẻ chúng ta, những người dễ bị cuốn hút, thay đổi và tôn sùng những giá trị mới lạ nhưng cũng là những người đầy nhiệt huyết, niềm tin, bản lĩnh và là tương lai của Giáo Hội và xã hội. Vâng, dù cho gia đình có biến đổi ra sao đi nữa, chúng ta vẫn hy vọng gia đình sẽ mãi là chiếc nôi, là tổ ấm, là cung thánh của sự sống,  nơi ấy thoả mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của mỗi con người. Quả vậy, thành quả của tình yêu là hôn nhân, thành quả của hôn nhân là mái ấm gia đình và con cái được sinh ra và lớn lên trong đó. Tình yêu – Hôn nhân – Gia đình, chuỗi ba từ ấy thường luôn đi liền nhau và gợi nên hình ảnh về một tổng thể cấu trúc với nét đẹp hài hòa, thiêng liêng và đầy ý nghĩa. Cấu trúc ấy cho thấy rằng khi chấp nhận đời sống hôn nhân, người ta phải có mục tiêu cụ thể để hướng tới : xây dựng và phát triển một gia đình hạnh phúc, ấm êm để nhờ ân huệ và thành quả tình yêu ấy, con cái được sinh ra, được giáo dục trưởng thành để trở nên những con người hữu ích.

 Ước gì những hy sinh, cố gắng của người viết, kết hợp với ơn Chúa giúp, ánh sáng của “ Văn Hóa Tình Thương, Văn Hóa Sự Sống” sẽ phủ dần vào đời sống hôn nhân gia đình, trả lại cho đời sống hôn nhân gia đình nét đẹp, vẻ huy hoàng mà Thiên Chúa đã yêu thương và tác dựng thuở ban đầu.

 

Lm. Joseph Phan Cảnh

BTT Giáo Phận Thanh Hoá

 

Chú thích

 [113] Ep 6,32.

[114] GS, 11.

[115]  Ep 1,3-6.

[116] St 1,28

[117]  UB Giáo Lý Đức Tin trực thuộc HĐGMVN, Giáo lý hôn nhân và gia đình, nxb tôn giáo Hà Nội, 2004, 125.

[118]  Xh 19,5-6.

[119]  Is 54,10.

[120] Gr 31,3.

[121]  UB Phụng Tự trực thuộc HĐGMVN, nghi thức cử hành hôn nhân, Sách nghi lễ Rôma, số 62

[122]  Ga 15,13.

[123] Ep 5,25.27.

[124]  FC, 34.

[125]  Cl  3, 12-13.

[126] GLHTCG, 2205.

[127]  ĐHY Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, Đường Hy Vọng, 501.

[128]  Hội  Đồng Tòa Thánh Về Gia Đình, Giáo lý cho cuộc hội ngộ các gia đình thế giới lần thứ VI, Mexico, 16-18 /01/ 2009

[129] GLHTCG, 2685.

[130]  Mt 18, 19 – 20.

[131]   FC, 59.

[132]  CĐ Vaticanô II, Hiến Chế Phụng vụ, 59.

[133]  Ep, 5, 31–32.

[134]  UB Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN, Giáo Lý Hôn  Nhân và Gia Đình, 2004, 135.

[135]  GLHTCG, 1624.

[136]   FC, 57.

[137]  FC, 58.

[138]  CĐ Vaticanô II, Đào Tạo Linh Mục, 2.

[139]   CĐ Vaticanô II, Tông Đồ, 11.

[140]  UB Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN, Giáo Lý Hôn  Nhân và Gia Đình, 2004, 140.

[141]  FC, 66.

[142]  St 2,24.

[143]   GLHTCG, 1603.

[144]   UB Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN, Giáo Lý Hôn  Nhân và Gia Đình, 2004, 26 – 27.

[145]   UB Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN, Giáo Lý Hôn  Nhân và Gia Đình, 27 – 30.

[146]   UB Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN, Giáo Lý Hôn  Nhân và Gia Đình, 2004, 85 – 87.

[147]  1Cr. 7, 1.

[148]  Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI, Thông điệp Deus Caritas Est, UB Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN, tháng 2.2006, 7.

[149]  Đức Phaolô VI, Thông điệp Humanae Vitae, 9.

[150]   GS,49.

[151]    St 1,27.

[152]   Tài liệu của Hội Đồng Tư Vấn Giáo Hoàng, Sự thật và ý nghĩa của tính dục con người, ban hành ngày 8/12/1996,11.

[153]   GS, 50.

[154]    FC,14.

[155]    HĐGMVN,Môi trường giáo dục Kitô giáo, thư chung 2008,14.

[156]   HĐGMVN, UB Bác Ái Xã Hội, tóm lược học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo, 209.

[157]   HĐGMVN, Giáo dục hôm nay, xã hội và Giáo hội ngày mai, thư chung 2007, 28.

[158]    Hội Đồng Tòa Thánh Về Gia Đình, “Gia đình là thầy dạy về các giá trị nhân bản và Kitô”, Giáo lý cho cuộc hội ngộ các gia đình thế giới lần thứ VI, Mexico, D.F., 16-18 / 01/ 2009.

[159]   Hội Đồng Tòa Thánh Về Gia Đình, “Gia đình là thầy dạy về các giá trị nhân bản và Kitô”, Giáo lý cho cuộc hội ngộ các gia đình thế giới lần thứ VI, Mexico, D.F., 16-18 / 01/ 2009.

[160]    HĐGMVN,Môi trường giáo dục Kitô giáo, thư chung 2008,15.

[161]    UB Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN, Giáo Lý Hôn  Nhân và Gia Đình, 2004, 159 – 162.

[162]    HV,14.

[163]    GS, 52.

[164]    GLHTCG, 2368, 2370.