Hướng dẫn đánh giá Reiki như một liệu pháp thay thế - Tài liệu của Ủy Ban Giáo lý đức tin trực thuộc Hội Đồng Giám mục Hoa Kỳ

10/07/2026
57
Header

 

HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ REIKI NHƯ MỘT LIỆU PHÁP THAY THẾ - TÀI LIỆU CỦA ỦY BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN TRỰC THUỘC HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC HOA KỲ

Chuyển ngữ: Hoàng Phan và Tâm Bùi

WHĐ (10/7/2026) – “Liệu pháp Reiki không phù hợp với giáo huấn Kitô giáo” là kết luận của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ trong một tài liệu hướng dẫn công bố năm 2009 để đánh giá về liệu pháp Reiki. Sau đây là toàn văn bản dịch Việt ngữ tài liệu này do Hoàng Phan và Tâm Bùi thực hiện.

Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ
Ủy ban Giáo lý Đức tin

HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ REIKI NHƯ MỘT LIỆU PHÁP THAY THẾ

Ngày 25 tháng 3 năm 2009

1. Thỉnh thoảng, người ta nêu lên những câu hỏi liên quan đến nhiều liệu pháp thay thế khác nhau vốn thường được cung cấp tại Hoa Kỳ. Các giám mục đôi khi được hỏi: “Lập trường của Giáo hội đối với những liệu pháp này là gì?” Ủy ban Giáo lý Đức tin của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ đã soạn thảo tài liệu này nhằm hỗ trợ các giám mục trong việc trả lời những câu hỏi đó.

I. CHỮA LÀNH NHỜ ÂN SỦNG THIÊN CHÚA VÀ CHỮA LÀNH NHỜ CÁC NĂNG LỰC TỰ NHIÊN

2. Giáo hội nhìn nhận có hai hình thức chữa lành: chữa lành nhờ ân sủng Thiên Chúa và chữa lành nhờ việc sử dụng các năng lực tự nhiên. Đối với hình thức thứ nhất, chúng ta có thể nhắc đến sứ vụ của Đức Kitô, Đấng đã thực hiện nhiều phép chữa lành thể xác và đã trao phó cho các môn đệ tiếp tục công việc ấy. Trung thành với sứ mạng đó, ngay từ thời các Tông đồ, Giáo hội đã chuyển cầu cho những người đau yếu bằng việc kêu cầu danh Chúa Giêsu, xin ơn chữa lành nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, dù dưới hình thức đặt tay và bí tích xức dầu hay qua những lời cầu nguyện đơn sơ xin ơn chữa lành, thường bao gồm cả việc khẩn cầu các Thánh trợ giúp. Đối với hình thức thứ hai, Giáo hội chưa bao giờ coi việc cầu xin ơn chữa lành từ Thiên Chúa, vốn là ân huệ Ngài ban, là loại trừ việc sử dụng các phương thế chữa lành tự nhiên thông qua y học.[1] Bên cạnh bí tích chữa lành và các lời cầu nguyện xin ơn chữa lành, Giáo hội có một truyền thống lâu đời trong việc chăm sóc người bệnh bằng các phương thế tự nhiên. Dấu chỉ rõ ràng nhất cho điều này là số lượng lớn bệnh viện Công Giáo hiện diện trên khắp đất nước.

3. Hai hình thức chữa lành này không loại trừ lẫn nhau. Việc có thể được chữa lành nhờ quyền năng Thiên Chúa không có nghĩa là chúng ta không nên sử dụng các phương thế tự nhiên sẵn có. Việc Thiên Chúa có chữa lành một người bằng những phương thế siêu nhiên hay không thì không phải là điều do chúng ta quyết định. Như sách Giáo lý Giáo hội Công Giáo chỉ rõ, Chúa Thánh Thần đôi khi ban cho một số người “đoàn sủng chữa lành để biểu lộ sức mạnh của ân sủng của Đấng Phục Sinh.”[2] Tuy nhiên, quyền năng chữa lành này không nằm trong sự định đoạt của con người, vì “những lời cầu nguyện sốt sắng nhất cũng không luôn luôn chữa lành tất cả mọi bệnh tật.”[3] Vì thế, việc sử dụng các phương thế chữa lành tự nhiên vẫn hoàn toàn thích hợp, bởi đó là những phương thế nằm trong tầm tay con người. Thực vậy, đức ái Kitô giáo đòi buộc chúng ta không được bỏ qua các phương thế tự nhiên để chữa trị cho những người đau yếu.

II. REIKI VÀ VIỆC CHỮA LÀNH

A) Nguồn gốc và những đặc điểm cơ bản của Reiki

4. Reiki là một phương pháp chữa lành được Mikao Usui phát minh tại Nhật Bản vào cuối những năm 1800, khi ông đang nghiên cứu các kinh điển Phật giáo.[4] Theo giáo lý Reiki, bệnh tật là do sự gián đoạn hoặc mất cân bằng của “năng lượng sống” trong con người. Người thực hành Reiki thực hiện việc chữa lành bằng cách đặt tay vào những vị trí nhất định trên cơ thể bệnh nhân nhằm tạo điều kiện cho dòng chảy của Reiki, tức “năng lượng sống vũ trụ”, lưu chuyền từ người thực hành đến bệnh nhân. Có nhiều vị trí tay được quy định để giải quyết các vấn đề khác nhau. Những người ủng hộ Reiki khẳng định rằng người thực hành không phải là nguồn phát sinh năng lượng chữa lành, mà chỉ là một kênh dẫn truyền năng lương ấy.[5] Để trở thành người thực hành Reiki, một người phải lãnh nhận một nghi thức “khai tâm” hoặc “khai mở” từ một Bậc thầy Reiki. Nghi thức này được cho là giúp người đó “điều chỉnh” với “năng lượng sống vũ trụ” và nhờ đó họ có khả năng trở thành một kênh dẫn truyền năng lượng ấy. Có 3 cấp độ khai mở khác nhau (một số trường phái dạy có 4 cấp). Ở các cấp cao hơn, người thực hành được cho là có thể dẫn truyền năng lượng Reiki và thực hiện chữa lành từ xa mà không cần tiếp xúc trực tiếp.

B) Reiki như một phương thế chữa lành tự nhiên

5. Mặc dù những người ủng hộ Reiki dường như đồng ý rằng Reiki không phải là một tôn giáo riêng biệt, mà là một kỹ thuật có thể được sử dụng bởi những người thuộc nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau, nhưng Reiki vẫn có một số khía cạnh mang tính tôn giáo. Reiki thường được mô tả là một hình thức chữa lành “tâm linh” trái ngược với các phương pháp y khoa thông thường vốn sử dụng các phương tiện vật lý. Nhiều tài liệu về Reiki chứa đầy tham chiếu đến Thiên Chúa, Nữ Thần, “quyền năng chữa lành thần linh” và “tâm trí thần linh”. Năng lượng sống được mô tả như được điều khiển bởi Thiên Chúa, “Trí tuệ tối cao”, hoặc “ý thức thần linh”. Tương tự, các “khai mở” khác nhau mà người thực hành Reiki lãnh nhận từ một Bậc thầy Reiki được thực hiện qua “các nghi thức thiêng liêng” liên quan đến việc biểu lộ và chiêm ngưỡng một số “biểu tượng thiêng liêng” (vốn theo truyền thống được các Bậc thầy Reik giữ bí mật). Hơn nữa, Reiki thường được mô tả như một “lối sống”, với danh sách 5 “Nguyên tắc Reiki” quy định cách cư xử đạo đức đúng đắn.

6. Tuy nhiên, có một số người thực hành Reiki, chủ yếu là các y tá, cố gắng tiếp cận Reiki đơn thuần như một phương thế chữa lành tự nhiên. Khi được xem như phương thế chữa lành tự nhiên, Reiki phải tuân theo các tiêu chuẩn của khoa học tự nhiên. Đúng là có thể tồn tại những phương thế chữa lành tự nhiên mà khoa học vẫn chưa hiểu hoặc chưa công nhận. Tuy nhiên, các tiêu chí cơ bản để phán đoán có nên tin tưởng vào bất kỳ phương thế chữa lành tự nhiên nào vẫn là những tiêu chí của khoa học.

7. Khi được đánh giá theo các tiêu chuẩn này, Reiki thiếu tính xác tín khoa học. Reiki chưa được cộng đồng khoa học và y học công nhận là một liệu pháp hiệu quả. Thiếu các nghiên cứu khoa học đáng tin cậy chứng minh hiệu quả của Reiki, cũng như thiếu một giải thích khoa học hợp lý về cách Reiki có thể đạt được hiệu quả. Việc giải thích hiệu quả của Reiki hoàn toàn dựa trên một quan niệm đặc biệt về thế giới, theo đó toàn thể vũ trụ được thấm nhuần bởi “năng lượng sống vũ trụ” (Reiki), năng lượng này có thể được tác động và điều khiển bởi tư tưởng và ý chí con người. Những người thực hành Reiki khẳng định rằng việc đào tạo cho phép họ dẫn truyền “năng lượng sống vũ trụ” hiện diện trong mọi sự vật. Tuy nhiên, “năng lượng sống vũ trụ” này là điều không được khoa học tự nhiên biết đến. Vì sự hiện diện của năng lượng như vậy chưa được quan sát hay xác nhận bằng các phương pháp của khoa học tự nhiên, nên việc biện minh cho những liệu pháp này tất yếu phải dựa trên những cơ sở khác ngoài khoa học.

C) Reiki và quyền năng chữa lành của Chúa Kitô

8. Một số người đã cố gắng đồng nhất Reiki với việc chữa lành nhờ ân sủng Thiên Chúa mà các Kitô hữu biết đến.[6] Họ đã nhầm lẫn. Sự khác biệt căn bản có thể thấy ngay ở chỗ: đối với người thực hành Reiki, quyền năng chữa lành nằm dưới sự định đoạt của con người. Một số bậc thầy muốn tránh hàm ý này và lập luận rằng không phải chính người thực hành Reiki thực hiện việc chữa lành, mà là năng lượng Reiki được ý thức thần linh hướng dẫn. Tuy nhiên, thực tế vẫn là đối với các Kitô hữu, việc tiếp cận quyền năng chữa lành của Thiên Chúa diễn ra qua lời cầu nguyện với Chúa Kitô là Chúa và Đấng Cứu Độ; trong khi bản chất của Reiki không phải là cầu nguyện mà là một kỹ thuật được truyền từ “Bậc thầy Reiki” cho học viên, một kỹ thuật mà khi đã thành thạo thì được cho là sẽ tạo ra kết quả mong đợi một cách đáng tin cậy.[7] Một số người thực hành cố gắng Công giáo hóa Reiki bằng cách thêm lời cầu nguyện với Chúa Kitô, nhưng điều này không thay đổi bản chất cốt lõi của Reiki. Vì những lý do này, Reiki và các kỹ thuật trị liệu tương tự khác không thể được đồng nhất với những gì Kitô hữu gọi là chữa lành nhờ ân sủng Thiên Chúa.

9. Sự khác biệt giữa những gì Kitô hữu công nhận là sự chữa lành nhờ ân sủng Thiên Chúa với liệu pháp Reiki cũng thể hiện rõ trong các thuật ngữ cơ bản mà những người ủng hộ Reiki sử dụng để mô tả những gì xảy ra trong liệu pháp Reiki, đặc biệt là “năng lượng sống vũ trụ”. Cả Thánh kinh lẫn truyền thống Kitô giáo nói chung đều không nói về thế giới tự nhiên, dựa trên “năng lượng sống vũ trụ”, có thể bị thao túng bởi năng lực tự nhiên của tư tưởng và ý chí con người. Thực tế, thế giới quan này có nguồn gốc từ các tôn giáo phương Đông và mang tính nhất nguyên, phiếm thần nhất định, vì sự phân biệt giữa bản ngã, thế giới và Thiên Chúa có xu hướng bị xoá nhoà.[8] Như đã thấy, những người thực hành Reiki không thể phân biệt rõ ràng giữa quyền năng chữa lành của Thiên Chúa và quyền năng nằm trong tầm sử dụng của con người.

III. KẾT LUẬN

10. Liệu pháp Reiki không nhận được sự hỗ trợ nào từ các phát hiện của khoa học tự nhiên cũng như từ niềm tin Kitô giáo. Đối với một tín hữu Công Giáo, việc tin vào liệu pháp Reiki đặt ra những vấn đề không thể giải quyết. Xét về việc chăm sóc sức khỏe thể chất cho bản thân hoặc cho người khác, việc sử dụng một kỹ thuật không có cơ sở khoa học hỗ trợ (hoặc thậm chí không có tính khả tín về mặt khoa học) nói chung là thiếu thận trọng.

11. Xét về việc chăm sóc sức khỏe tinh thần, Reiki còn tiềm ẩn những nguy cơ đáng kể. Để sử dụng Reiki, người ta ít nhất phải chấp nhận một cách ngầm định những yếu tố cốt lõi của thế giới quan làm nền tảng cho lý thuyết Reiki, những yếu tố không thuộc về đức tin Kitô giáo cũng như khoa học tự nhiên. Tuy nhiên, khi không có sự biện minh nào từ đức tin Kitô giáo hoặc từ khoa học tự nhiên, một tín hữu Công Giáo đặt niềm tin vào Reiki sẽ hoạt động trong lĩnh vực mê tín dị đoan, một vùng đất không thuộc về đức tin cũng không thuộc về khoa học.[9] Mê tín dị đoan làm sai lệch việc thờ phượng Thiên Chúa khi hướng tâm tình và thực hành tôn giáo của con người theo một chiều hướng sai lạc.[10] Mặc dù đôi khi người ta rơi vào mê tín do thiếu hiểu biết, nhưng trách nhiệm của tất cả những ai giảng dạy nhân danh Giáo hội là loại bỏ sự thiếu hiểu biết ấy càng nhiều càng tốt.

12. Vì liệu pháp Reiki không phù hợp với giáo huấn Kitô giáo cũng như với các bằng chứng khoa học, nên các cơ sở Công Giáo, chẳng hạn như các cơ sở chăm sóc sức khỏe Công Giáo và trung tâm tĩnh tâm, hoặc những người đại diện cho Giáo hội, chẳng hạn như các linh mục tuyên úy, không nên cổ võ hoặc hỗ trợ liệu pháp Reiki.

Các Giám mục ký tên:

Đức Giám mục William E. Lori (Chủ tịch), Giám mục Bridgeport

Đức Giám mục Leonard P. Blair, Giám mục Toledo

Đức Tổng Giám mục José H. Gomez, Tổng Giám mục San Antonio

Đức Giám mục Robert J. McManus, Giám mục Worcester

Đức Tổng Giám mục John C. Nienstedt, Tổng Giám mục St. Paul và Minneapolis

Đức Giám mục Arthur J. Serratelli, Giám mục Paterson

Đức Giám mục Allen H. Vigneron, Giám mục Oakland

Đức Tổng Giám mục Donald W. Wuerl, Tổng Giám mục Washington

Hoàng Phan & Tâm Bùi chuyển ngữ từ: usccb.org

---------------

 

[1] Xem Bộ Giáo lý Đức tin, Huấn thị về các lời cầu nguyện xin ơn chữa lành, ngày 14.9.2000, I, 3: “Rõ ràng, việc cầu nguyện không loại trừ, nhưng đúng hơn còn khuyến khích việc sử dụng những phương thế tự nhiên hữu hiệu để bảo vệ và phục hồi sức khỏe; đồng thời thúc đẩy con cái của Giáo hội chăm sóc người bệnh, trợ giúp họ cả về thể xác lẫn tinh thần, và tìm cách chữa trị bệnh tật.”

[2] Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 1508.

[3] Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 1508.

[4] Cũng có người cho rằng ông chỉ đơn thuần tái khám phá một kỹ thuật cổ xưa của Tây Tạng, nhưng không có bằng chứng nào xác thực cho tuyên bố này.

[5] Tuy nhiên, như sẽ thấy dưới đây, trong tư tưởng Reiki, những khác biệt giữa bản thân, thế giới và Thiên Chúa có xu hướng bị xóa nhòa. Một số bậc thầy Reiki giải thích rằng cuối cùng người ta sẽ đạt tới nhận thức rằng bản thân và “năng lượng sống vũ trụ” là một, rằng “chúng ta chính là năng lượng sống vũ trụvà mọi sự đều là năng lượng, kể cả chính chúng ta” (Libby Barnett và Maggie Chambers cùng Susan Davidson, Reiki Energy Medicine: Bringing Healing Touch into Home, Hospital, and Hospice [Rochester, Vermont: Healing Arts Press, 1996], tr. 48; xem thêm tr. 102).

[6] Chẳng hạn, xem bài “Reiki and Christianity” và “Christian Reiki”, cũng như trang mạng Christian Reiki.

[7] Các bậc thầy Reiki tổ chức các khóa đào tạo với nhiều cấp độ tiến triển khác nhau; đối với các dịch vụ này, người giảng dạy đòi hỏi một khoản thù lao tài chính đáng kể. Học viên tham gia với kỳ vọng, và bậc thầy Reiki cũng bảo đảm, rằng việc đầu tư thời gian và tiền bạc sẽ giúp họ làm chủ một kỹ thuật có khả năng tạo ra những kết quả có thể dự đoán được.

[8] Dù điều này dường như đã hàm chứa trong giáo huấn Reiki, một số người ủng hộ còn phát biểu cách minh nhiên rằng rốt cuộc không có sự khác biệt giữa bản thân và Reiki. “Sự hòa hợp với chính mình và việc trở thành Reiki là một tiến trình liên tục. Sự sẵn lòng không ngừng dấn thân vào tiến trình này sẽ thúc đẩy sự phát triển của bạn và có thể dẫn đến sự nhận biết bền vững, cũng như kinh nghiệm tối hậu rằng bạn là năng lượng sống vụ trụ” (The Reiki Healing Connection [Libby Barnett, M.S.W.]). Diane Stein tóm tắt ý nghĩa của một số “biểu tượng linh thánh” được sử dụng trong các nghi thức điều chỉnh Reiki như sau: “Nữ thần nơi tôi kính chào Nữ thần nơi bạn”; “Con người và Thiên Chúa trở nên một” (Essential Reiki Teaching Manual: A Companion Guide for Reiki Healers [Berkeley, California: Crossing Press, 2007], tr. 129–131). Anne Charlish và Angela Robertshaw giải thích rằng cấp độ điều chỉnh Reiki cao nhất “đánh dấu sự chuyển dịch từ bản ngã và cái tôi sang cảm thức hiệp nhất với năng lượng sống vụ trụ” (Secrets of Reiki [New York: DK Publishing, 2001], tr. 84).

[9] Một số hình thức Reiki dạy rằng cần phải cầu xin sự trợ giúp của các hữu thể thiên thần hoặc các “thần hướng dẫn Reiki”. Điều này còn kéo theo một nguy cơ khác là tiếp xúc với những thế lực hoặc quyền năng độc hại.

[10] Xem sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 2111; Thánh Tôma Aquinô, Tổng luận Thần học, II-II, q. 92, a. 1.