Suy niệm với Lời Chúa (14.10.2018 - Chúa Nhật Tuần 28 Thường niên)

10/10/2018
137
Lời Chúa: (Mc 10,17-30) 

17 Hôm ấy, Ðức Giêsu vừa lên đường, thì có một người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Người và hỏi: "Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?" 18 Ðức Giêsu đáp: "Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa. 19 Hẳn anh biết các điều răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ kính cha mẹ". 20 Anh ta nói: "Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ". 21 Ðức Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta: "Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi". 22 Anh ta sa sầm nét mặt vì lời đó, và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải. 
23 Ðức Giêsu rảo mắt nhìn chung quanh, rồi nói với các môn đệ: "Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!" 24 Nghe Người nói thế, các môn đệ sững sờ. Nhưng Người lại tiếp: "Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao! 25 Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa". 26 Các ông lại càng sửng sốt hơn nữa và nói với nhau: "Thế thì ai có thể được cứu?" 27 Ðức Giêsu nhìn thẳng vào các ông và nói: "Ðối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được". 
28 Ông Phêrô lên tiếng thưa Người: "Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!" 29 Ðức Giêsu đáp: "Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, 30 mà bây giờ, ngay ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống đời đời ở đời sau."
 

Suy Niệm 

I. Được Gấp Trăm

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Khi đọc bài Tin Mừng trên đây
ta nếm được nỗi buồn của Ðức Giêsu và của anh nhà giàu.
Ðức Giêsu buồn vì bị từ chối bởi người mà mình yêu mến,
Anh kia buồn vì có sự rạn nứt nơi bản thân.
Anh đã phấn khởi gặp Chúa, rồi ra đi đầy muộn phiền.

Thầy Giêsu đòi anh đúng điều anh muốn giữ lại,
vì của cải vốn là chỗ dựa của đời anh.
Anh sẵn sàng làm mọi điều Thầy đòi hỏi,
trừ việc bỏ chỗ dựa này.
Bây giờ anh thấy rõ hơn mình nô lệ cho điều gì.
Tiếc thay anh không có can đảm ra khỏi sự nô lệ này
dù anh vẫn khát khao sự sống đời đời.

Bi kịch của anh cũng là của chúng ta.
Ai trong chúng ta cũng từng bị giằng co
giữa ước mơ bay cao và sự kéo ghì của vật chất.
Của cải vật chất có sức hấp dẫn mãnh liệt.
Tôi làm chủ nó, nhưng sau đó nó lại làm chủ tôi
và trở thành thịt xương mà tôi không thể dứt bỏ.
Không chắc người giàu này sẽ bị luận phạt,
nhưng chắc chắn anh ta khó hạnh phúc.

Hạnh phúc chỉ đến với người dám sống theo ý Chúa. 
Người có của khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!
Vào thời Ðức Giêsu, giàu có được coi là một phúc lành.
Vậy mà Ngài lại coi đây là một cản trở nguy hiểm.
Của cải dễ làm người ta khép kín trước Thiên Chúa
và nỡ tâm chà đạp lên quyền lợi anh em.

Tệ nạn tham nhũng, hối lộ ở Châu Á
là một thí dụ về nguy hiểm của tiền bạc.
Ðức Giêsu và các môn đệ đã sống nghèo,
sống như những người lữ hành, không chỗ cậy dựa,
để tín thác vào Cha và dễ dàng đến với anh em.
Theo Ðức Giêsu là chấp nhận tay trắng, bấp bênh.
Nhưng đừng quên theo Ngài cũng là trở nên giàu có.
Không phải sự giàu có do ích kỷ giữ lại,
nhưng là sự giàu có do mở ra trao hiến.

Không phải sự giàu có do tìm kiếm chiếm đoạt,
nhưng là sự giàu có đến như một quà tặng biếu không.
Theo Ngài không phải chỉ là bỏ nhà cửa, ruộng vườn,
bỏ những người thân yêu, bỏ đến cả mạng sống.
Theo Ngài còn là được gấp trăm ngay từ đời này,
và nhất là đời sống vĩnh cửu mai hậu.
Khi Phêrô ra khỏi hồ Galilê, với nghề đánh cá,
ông được biết những biển khơi mênh mông hơn nhiều.
Khi Phêrô bỏ lại cha mẹ, vợ con,
ông đứng đầu một cộng đoàn đông đảo là Hội Thánh.

Chắc Têrêxa Hài Ðồng không ngờ mình trở nên Thánh Sư.
Chắc Têrêxa Calcutta không ngờ đám táng của mình
sẽ có cả triệu người tham dự. 
Theo Ðức Giêsu, ta sẽ được lại cả những điều đã mất.
Cái được quan trọng nhất là được Ðức Giêsu (x. Pl 3,8).
 
Cầu Nguyện 

Lạy Chúa Giêsu,
giàu sang, danh vọng, khoái lạc
là những điều hấp dẫn chúng con.
Chúng trói buộc chúng con
và không cho chúng con tự do ngước lên cao
để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn. 

Xin giải phóng chúng con
khỏi sự mê hoặc của kho tàng dưới đất,
nhờ cảm nghiệm được phần nào
sự phong phú của kho tàng trên trời. 
Ước gì chúng con mau mắn và vui tươi
bán tất cả những gì chúng con có,
để mua được viên ngọc quý là Nước Trời. 

Và ước gì chúng con không bao giờ quay lưng
trước những lời mời gọi của Chúa,
không bao giờ ngoảnh mặt
để tránh cái nhìn yêu thương
Chúa dành cho từng người trong chúng con. Amen. 


II. Đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc, SJ

Phần đầu của bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay có cấu trúc song song đối xứng như sau:
(A) Người thanh niên đến với Đức Giê-su và nêu câu hỏi (c.17)
(B) Lời của Đức Giê-su về Thiên Chúa nhân lành (c. 18)
(C) Các giới răn (c. 19-20)
(B’) Lời mời gọi đi theo Ngài (c. 21)
(A’) Nghe câu trả lời, anh bỏ đi, buồn rầu (c. 22)
Phần trung tâm (C) Các giới răn: biết và giữ các giới răn vẫn chưa đủ, nhất là khi biết và giữ mà không có Thần Khí, không có kinh nghiệm sâu đậm về tình yêu Thiên Chúa, nghĩa là không biết vì ai, nhờ ai và cho ai?
Các phần bao quanh (A tương ứng với A’ và B tương ứng với B’): Đức Giê-su là Đường, Sự Thật và Sự Sống giúp chúng ta hoàn tất Lề Luật theo Thần Khí (x. Mt 5, 17-48).
*  *  *
Trong Thánh Lễ Chúa Nhật hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta nghe trình thuật khá dài, theo Tin Mừng của thánh Mác-cô. Trình thuật có thể được phân chia thành ba phần, phần 1 (A) và phần 3 (A’) cũng có tương quan song song và đối xứng như sau:
(A) Người thanh niên (c. 17-22)
(B) “Ai có thể được cứu?” –
        “Đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được”
(A’) Ông Phê-rô và những người đi theo Đức Giê-su
Trước lời mời gọi của Đức Giê-su: “Hãy đến theo tôi”, người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì “anh ta có nhiều của cải”, còn ông Phê-rô thì lên tiếng: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!”.
Để vào “Nước Thiên Chúa”, con người không thể tự mình, nhưng chỉ có Thiên Chúa mới có thể dẫn vào mà thôi. Và Người dẫn chúng ta vào bằng con đường “Đi Theo Đức Ki-tô” (Sequela Christi), Con của Người.

1. “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì… ?”
a. Người thanh niên đạo hạnh
Chúng ta hãy nhìn ngắm một người, có lẽ còn trẻ (x. Mt 19, 20), đến với Đức Giê-su và tỏ bày lòng thao thức sự sống đời đời. Chúng ta có thể trách cứ, xếp loại, thậm chí lên án anh quá gắn bó với tiền của đến độ từ chối lời mời gọi đi theo Đức Giêsu, nhưng trước hết, chúng ta cần thán phục anh và nhất là, cùng với Đức Giê-su, nhìn anh với lòng thương cảm: “Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến”.

Anh là người có nhiều của cải (nếu anh còn trẻ, thì đó có thể là gia tài cha mẹ để lại cho anh), và vì thế, có thể yên tâm hưởng thụ. Nhưng không, anh giầu có, nhưng lại thao thức về sự sống đời đời. Và anh không chỉ thao thức trong lòng, nhưng còn diễn tả ra bên ngoài ngang qua việc đích thân đi tìm gặp Đức Giê-su. Cuộc gặp gỡ này giả thiết anh đã có cả một thời gian tìm kiếm và tìm hiểu trước đó. Ngoài ra, anh sống rất đạo hạnh, phù hợp với thao thức về sự sống đời đời của mình: “Thưa Thầy, tất cả những điều đó (nghĩa là những điều răn) tôi đã tuân giữ từ thủa nhỏ”.
Đức Giê-su sẽ giúp anh làm rõ và cụ thể hóa khát khao “sự sống đời đời” của anh, đồng thời làm bật ra sự quyến luyến của con tim với những phương tiện chóng qua, làm cản trở anh sống lòng khao khát của mình.

b. Thiên Chúa nhân lành
Thật vậy, Đức Giê-su dùng chính danh xưng mà người thanh niên gọi Ngài: “Thầy nhân lành” để hướng anh tới chính Thiên Chúa nhân lành: “Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa”. Với câu nói này, Đức Giê-su vừa cho thấy sự khiêm tốn của Ngài, không tự nhận mình là nhân lành, nhưng qui về Thiên Chúa nhân lành, là Cha của Người, vừa thông truyền cho anh con đường để đạt tới sống đời đời. Câu trả lời của Đức Giê-su cho thấy vấn đề thiêng liêng của người thanh niên: 

(1) Từ nhỏ, anh đã chu toàn mọi lề luật trong tương quan với người khác: “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ” Nhưng đâu là sự thật về tương quan của anh với Thiên Chúa? 

(2) Sự sống đời đời, không phải là lương bổng Thiên Chúa phải trả cho những người giữ luật hay tự ý giữ nhiều hơn cả những gì luật đòi hỏi, như anh đã nghĩ: “tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Sự sống đời đời là chính sự sống của Thiên Chúa, được trao ban một cách nhưng không, nhờ Đức Ki-tô, với Đức Ki-tô và trong Đức Ki-tô, cho những ai có lòng khao khát và sống theo khao khát này, trong đó có việc giữ luật.

(3) Chính tương quan ân huệ và tình yêu với Thiên Chúa mới làm cho anh “hoàn tất” lề luật một cách đích thực, khởi đi từ con tim yêu mến và biết ơn Thiên Chúa, đồng thời giúp cho anh có tương quan đúng với những điều mà luật không nói tới hay không thể đụng tới, đó là những quyến luyến của con tim với những gì không phải là Thiên Chúa, hay với những gì không hướng tới Thiên Chúa.

c. Lời mời gọi của Đức Giê-su
Đức Giê-su thấu suốt cõi lòng anh, thương mến anh, nên mời gọi một cách triệt để, nhằm làm bật ra vấn đề có nơi con tim của anh và chữa lành: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi”. Người thanh niên từ chối lời mời gọi của Đức Giê-su, điều này chứng tỏ rằng, dù anh giữ hết các giới răn và khao khát sự sống đời đời, sự gắn bó của lòng anh với của cải vẫn mạnh hơn nỗ lực thực hiện lòng khao khát này.

Lời mời gọi của Đức Giê-su đích thân dành cho riêng anh, chứ không phải là lời mời gọi phổ quát dành cho hết mọi người, để giúp anh làm rõ tương quan của anh với Thiên Chúa và với của cải. Nhưng những vấn đề mà lời này làm bật ra đụng chạm đến hết mọi người chúng ta: chúng ta có thực sự nhận Thiên Chúa làm cứu cánh cuộc đời không, hay là điều gì khác?

Qua lời mời gọi đi theo Ngài với lòng yêu mến, Đức Giê-su không chỉ thông truyền cho anh con đường để đi vào (thay vì sở hữu) sự sống đời đời, nhưng còn mặc khải cho anh rằng, chính Ngài là đường đi. Nói theo ngôn ngữ Linh Thao của thánh I-nhã, “ca tụng, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta, nhờ đó cứu rỗi linh hồn mình” (LT 23), đó là hiểu biết, yêu mến và đi theo Đức Ki-tô.

Đi theo Đức Ki-tô, chúng ta sẽ nhận ra tình yêu và lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa đích thân dành cho từng người chúng ta như thế nào nơi ngôi vị và mầu nhiệm Thập Giá của Người; bởi vì Ngài chính là hiện thân của sự sống đời đời, là hình ảnh của Thiên Chúa nhân lành, điều mà người thanh niên khao khát. 
Với kinh nghiệm tình yêu đến cùng của Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô và chỉ với kinh nghiệm này, chúng ta mới có thể yêu mến Thiên Chúa hết sức và trên hết mọi sự, và có thể thân thưa với Người, trong tâm tình cảm mến và tín thác: “Lạy Chúa, Chúa đã ban cho con tất cả, con xin dâng lại cho Chúa tất cả (LT 234).
*  *  *
Như người thanh niên trong bài Tin Mừng, chúng ta cũng có mối lo về “của cải”, tượng trưng cho tất cả những gì không phải là Thiên Chúa, không thuộc về Thiên Chúa, không hướng chúng ta về Thiên Chúa, không giúp chúng ta yêu mến Chúa hơn. Nhưng khi sống như thế, chúng ta có loại trừ Người ra khỏi cuộc sống của chúng ta được không?

    Khi mà mọi sự sẽ qua đi, và chỉ có Ngài là cùng đích và là điểm tới, là vĩnh hằng.
    Khi mà Ngài bao bọc chúng ta cả sau lẫn trước, bàn tay của Ngài đặt trên chúng ta, bằng ân huệ sự sống mỗi ngày (x. Tv 139).
    Khi mà chúng ta sống không nguyên bởi cái thú thỏa mãn mọi nhu cầu, cho dù cần thiết đến mức nào, nhưng nhất là còn sống bằng tương quan nhưng không, yêu thương, tha thứ, đón nhận, bao dung, cảm thông, biết ơn… được tác tạo và duy trì bởi và chỉ bởi Lời và Ngôi vị của Chúa mà thôi.
    Khi mà, những thử thách của cuộc đời, là điều không thể tránh được, sẽ buộc chúng ta phải đặt ra những câu hỏi tận căn: Tôi đang tìm gì hay đang tìm ai? Tôi sống cho bản thân, cho cái gì hay cho ai đó? Tôi sẽ phải chết, vậy đâu là lối đi và ý nghĩa đời tôi? Tôi sống theo ơn gọi hay theo thị hiếu, trào lưu?
    Khi mà sẽ đến lúc, lúc này có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, phải buông xuôi tất cả, như thánh Phao-lô nói: “thời gian chẳng còn bao lâu nữa… bộ mặt thế giới này đang qua đi” (1Cr 7, 29.31)

Vậy, đâu là những mối lo của chúng ta trong thời điểm này ? Chúng ta có sắp xếp thứ tự ưu tiên cho các mối lo không ? Chúng ta có những mối lo về những điều nhân bản hơn, cao quí hơn và “thiêng liêng” hơn không? “Thiêng liêng” có nghĩa là trọn vẹn con người của tôi sống hay ước ao sống tương quan với Chúa trong mọi sự và ở mọi nơi mọi lúc ? Và nhất là, ngang qua những mối lo không thể tránh được của chúng ta, chúng ta tìm gì ? Đức Ki-tô hỏi từng người trong chúng ta vào thời điểm quan trọng này của thời gian : « Con tìm gì ? »

2. “Đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được”
Sau khi người thanh niên giàu có khước từ lời mời gọi đem bán tài sản mình có, phân phát cho người nghèo và đi theo Đức Giê-su, Người nói:
Đức Giê-su rảo mắt nhìn chung quanh, rồi nói với các môn đệ: "Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!... Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim  còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa."(c. 24-25)

Câu nói này của Đức Giê-su dường như chỉ liên quan đến “những người giàu có”, chứ không liên quan đến các môn đệ, và cũng không liên quan đến nhiều người trong chúng ta, vốn không phải là “những người giàu có”. Thế nhưng tại sao các môn đệ lại vô cùng sửng sốt và kêu lên: “Thế thì ai có thể được cứu?”
Bởi vì, lời của Đức Giê-su không xét đoán của cải, vì của cải tự nó không phải là điều xấu hay sự dữ, nhưng liên quan đến tương quan gắn bó của con tim đối với của cải, mà “những người giàu có” rất dễ mắc phải. Nhưng vì vấn đề là tương quan với của cải, chứ không phải của cải, nên lời của Đức Giê-su liên quan tất cả mọi người: người có của, người có ít của, và kể cả người không có của. Người thanh niên, tuy đã giữ tất cả Lề Luật từ nhỏ và giữ một cách hoàn hảo, nhưng lòng anh lại gắn bó mật thiết với điều anh có, vốn là đối tượng mà Lề Luật không thể đụng chạm tới được. Bằng lời mời gọi thật triệt để dành cho anh cách đích danh, Đức Giê-su cảm thương anh (x. Mc 10, 21) và muốn giải thoát anh khỏi sự quyến luyến lệch lạc làm cho anh không bình an, mặc dầu đã tuân giữ các giới răn, và hướng lòng anh tới “kho tảng trên trời”.

Các môn đệ, dường như hiểu ra được vấn đề là sự gắn bó của con tim đối với của cải, vốn liên quan đến mọi người, nên đã thốt lên: “Thế thì ai có thể được cứu?” Và Đức Giê-su đã xác chuẩn cách hiểu này và hướng lòng các môn đệ tới sức lôi cuốn mạnh mẽ của chính Thiên Chúa, được thể hiện nơi ngôi vị của Đức Ki-tô (x. Pl 3, 7-6), khiến chúng ta có khả năng tự do với những điều chúng ta có, và thậm chí với chính sự sống của chúng ta. Thật vậy, Người nói: 
Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được. (c. 27)
Điều này có nghĩa là, Thiên Chúa có khả năng làm cho “con lạc đà chui qua lỗ kim” được! Đó là điều Thiên Chúa đã làm trong lịch sử cứu độ, đã cho Đức Maria, Mẹ của chúng ta và đang thực hiện cho các môn đệ của Đức Giê-su thuộc mọi thời, trong đó có chúng ta hôm nay.

3. “Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!”

Với một vài khác biệt , cả ba Tin Mừng nhất lãm đều thuật lại câu nói của thánh Phê-rô: “Chúng con đây (nghĩa là không như anh thanh niên có nhiều của cải, vừa bỏ đi trước lời mời gọi đi theo Đức Giê-su), chúng con đã bỏ lại tất cả và chúng con đi theo Thầy”. Nhưng câu trả lời của Đức Giê-su theo Tin Mừng Mác-cô trong bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay, là đặc biệt nhất.

Thật vậy, trong cả ba Tin Mừng, Đức Giê-su đều kể ra những gì mà Phê-rô và tất cả những ai đi theo Ngài đã từ bỏ: nhà cửa, anh em, chị em, người cha, người mẹ, con cái, ruộng đất. Tuy nhiên, câu trả lời của Đức Giê-su theo Tin Mừng Mác-cô có ít nhất hai đặc điểm:
    Đức Giê-su nói: "Bây giờ, ở đời này, lại không nhận được… gấp trăm"; và Ngài kể lại chính xác những gì người môn đệ đã từ bỏ: nhà cửa, anh em, chị em, người mẹ, con cái, ruộng đất. Trong các Tin Mừng khác, Đức Giê-su chỉ nói cách tổng quát rằng, người môn đệ sẽ nhận được hơn nhiều.
    Và Người nói thêm: "Và cùng với sự ngược đãi". Các tác giả Tin Mừng khác không kể lại chi tiết này.

a. Dứt bỏ điều không thể
Là người Ki-tô hữu, dù lớn hay bé, chúng ta đều được mời gọi đi theo Đức Ki-tô, sống và làm chứng cho Tin Mừng của Ngài trong đời sống hằng ngày, với ơn gọi Chúa ban cho mỗi người chúng ta. Và để đi theo Đức Ki-tô, sống và làm chứng cho Tin Mừng của Ngài, chúng ta được mời gọi từ bỏ; và những gì chúng ta được mời gọi từ bỏ lại những điều và những người rất thiết thân với chúng ta, như chính Đức Giê-su nói trong bài Tin Mừng: nhà cửa, anh em, chị em, người cha, người mẹ, con cái và ruộng đất.

Tất cả những điều này tạo nên một hình ảnh hoàn chỉnh và rất đỗi thân thương, đó là căn nhà, trong nhà có cha mẹ, các anh chị em, và chung quanh nhà là ruộng đất. Chúng ta thử nghĩ mà xem, trên đời này có những gì và có những ai thân thương và cần cho sự sống đối với chúng ta hơn là căn nhà, đất đai và gia đình của chúng ta. Vậy thì, làm sao mà từ bỏ được? Và phải chăng đòi hỏi của Đức Giê-su là không hợp lí, không hợp tình và nhất là không hợp với lẽ sống của con người? Vậy thì, chúng ta phải hiểu như thế nào đòi hỏi quá triệt để nàu của Đức Giê-su, đến độ không thể chấp nhận được? 

Vậy “từ bỏ” Chúa nói ở đây có nghĩa là gì? Dứt bỏ theo Đức Giê-su, hay nói đúng hơn, dứt bỏ trong Chúa,  những người thân yêu, chính là để nhận lại như một quà tặng Thiên Chúa ban; và Chúa hứa là chúng ta sẽ nhận lại gấp trăm. Vì thế, từ bỏ mà Chúa đòi hỏi, là từ bỏ quyền làm chủ người này trên người kia. Nếu không từ bỏ hiểu như trên, chúng ta sẽ coi những người thân yêu và những gì gắn liền với những người thân yêu, là của riêng mình, và tự coi mình là chủ có quyền định đoạt theo ý riêng. Kinh nghiệm cho thấy, làm như thế chúng ta sẽ đánh mất nhau, đánh mất chính mình và đánh mất tất cả.

Dứt bỏ mọi sự để trở thành môn đệ của Đức Giê-su, chính là để yêu mến nhau như Chúa yêu mến chúng ta. Như thế, chúng ta sẽ không “đánh mất nhau”, nhưng ngược lại, chúng ta sẽ “tìm lại được nhau” và nhận lại “gấp trăm” trong tương quan tình yêu đích thật và muôn đời. Bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu.

b. Gấp trăm
Nếu Đức Giêsu chỉ nói: “anh em sẽ nhận được nhiều hơn” như trong Tin Mừng Mát-thêu và Luca (Mt 19, 27-30; Lc 18, 28 -30), chúng ta rất dễ hiểu lời hứa “nhiều hơn” theo nghĩa “thiêng liêng phi thân thể”. Chẳng hạn, một nhà chú giải đã giải thích “nhiều hơn” là niềm vui Nước Trời lớn hơn niềm vui hôn nhân, gia đình và sở hữu. Nhưng cách trả lời của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay, mời gọi chúng ta hiểu và nhất là kinh nghiệm một cách thật cụ thể điều mà Đức Giêsu hứa: “bây giờ, trong thời này, anh em sẽ nhận được ở mức độ gấp trăm nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con cái, ruộng đất”.

Và quả thật, các môn đệ và đến lượt chúng ta được mời gọi nhận ra rằng, trong hành trình bỏ mọi sự để đi theo Đức Giêsu, mình đã thực sự nhận lại nhà, đất, anh em, chị em, mẹ, con cái gấp trăm. Bởi lẽ, quả thật chúng ta có nhiều nhà, nếu không muốn nói ở đâu cũng là nhà; và ai cũng là người thân của chúng ta, khởi đi từ những anh em cùng chia sẻ một đức tin và nhất là cùng một ơn gọi. Gấp trăm xảy ra được, bởi vì chúng ta vượt qua tương quan huyết thống và sở hữu, để đi vào tương quan Nước Trời là hiệp thông và chia sẻ.
    Hiệp thông trong tình yêu của Thiên Chúa là Cha, và như thế, mọi người là anh chị em.
    Chia sẻ những gì mình có, và đón nhận những gì mình được chia sẻ.

Nhưng Đức Giêsu còn nói tới khả thể bách hại. Với những cơn bách hại, chúng ta có thể bị mất hết, bị tước đoạt, bị cắt đứt mọi tương quan, bị trắng tay, và mất cả sự sống của mình. Như tổ tiên của chúng ta trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam đã từng có kinh nghiệm. Bởi vì, tất cả những gì Chúa ban cho chúng ta ở đời này chỉ là hình ảnh của sự sống hiệp thông và chia sẻ viên mãn được chính Đức Giê-su hứa ban ở đời sau: “và sự sống vĩnh cửu ở đời sau”.
Còn một chi tiết rất đáng lưu ý trong câu trả lời của Đức Giêsu: Trong danh sách những gì người đệ sẽ nhận lại, chỉ có “mẹ”, chứ không có “bố”. Ngài chỉ nói anh em sẽ nhận được gấp trăm về mẹ, chứ không nói gấp trăm về bố! Và lời hứa này của Đức Giê-su quả thực đã luôn ứng nghiệm trong hành trình đi theo Người.

c. Mầu nhiệm Vượt Qua
Sau cùng, Đức Giê-su còn nói: “Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu.” (c. 31) Lời này của Đức Giê-su xem ra không tương thích với cuộc đối thoại của Đức Giê-su và các môn đệ về vấn đề “từ bỏ và nhận lại”. Chính vì thế, chúng ta không thấy câu này được ghi lại trong Tin Mừng theo thánh Luca (x. Lc 18, 28-30). Hơn nữa, dường như câu nói này của Đức Giê-su hay một lời tương tự như thế, cũng được ghi lại trong một bối cảnh khác. 

Tuy nhiên, theo cách kể truyện của thánh Mác-cô, chúng ta được mời gọi lắng nghe lời nói này của Đức Giê-su như là câu kết luận không chỉ của cuộc đối thoại này, nhưng còn của cả một trình thuật dài, kể từ khi Người dạy các môn đệ về mầu nhiệm Vượt Qua lần thứ hai (Mc 9, 30 – 10, 30). Bởi lẽ, ngay sau đó, Người sẽ nói về mầu nhiệm Vượt Qua lần thứ ba. Vì thế, chúng ta được mời gọi hiểu lời này của Đức Giê-su: “Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu”, dưới ánh sáng của mầu nhiệm Vượt Qua của Người, để thay đổi cái nhìn của chúng ta về mọi sự:

a. Về vấn đề “ai là người lớn hơn hết” (9, 33-37); về vấn đề có người không thuộc nhóm các môn đệ, danh của Thầy Giê-su để trừ quỉ (c. 38-40); về vấn đề làm cớ cho người ta sa ngã (c. 42-50); về vấn đề đời sống hôn nhân (10, 1-12); và về vấn đề tương quan giữa trẻ em và Nước Trời (c. 13-18).
b. Về vấn đề gắn bó với của cải (c. 17-27) và về lựa chọn từ bỏ mọi sự để đi theo Đức Giê-su (c. 28-30)
c. Ngoài ra, dựa vào sự ngược đãi mà Đức Giê-su vừa nói (c. 30), chúng ta cũng có thể hiểu rằng, Đức Giê-su loan báo sẽ có sự đảo ngược các giá trị vào ngày phán xét. Lời loan báo này mang lại niềm hi vọng cho tất cả những ai “đã bỏ mọi mà theo Thầy”.