“Anh em hãy yêu thương nhau”: Tính hiệp hành và đời sống giáo phận

06/02/2026
4
Header

WHĐ (05/02/2026) – Bài viết này gồm ba phần của Tiến sĩ Alessandro Rovati trình bày một phân tích về những giải thích của Huấn quyền thông thường liên quan đến bản chất của tính hiệp hành, những lý do vì sao cần nhấn mạnh đến tính hiệp hành trong bối cảnh hiện nay, cũng như một số thực hành thích hợp trong đời sống giáo phận. Đặc biệt, bài viết tập trung vào những đóng góp phong phú của Đức Giáo hoàng Phanxicô và những kết quả do Thượng Hội đồng Giám mục về tính hiệp hành công bố. Dưới đây là Phần I của bài viết.
 

Phần Một: Vì sao chúng ta cần tính hiệp hành?

Tháng Sáu năm ngoái, Ban Thư ký Thượng Hội đồng đã công bố Văn kiện “Các lộ trình cho giai đoạn thực thi Thượng Hội đồng”. Văn kiện này, đã được Đức Thánh cha Lêô XIV phê chuẩn, mời gọi tất cả các Giáo hội địa phương tận dụng ba năm sắp tới để làm quen với những nguyên tắc được trình bày trong Văn kiện Chung kết của Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục, đồng thời bắt đầu thể hiện những nguyên tắc ấy trong đời sống và cơ cấu của mình. Trong số những điểm khác, các lộ trình này nhấn mạnh đến sự cần thiết phải bảo vệ tầm nhìn chung của Văn kiện Chung kết và xem đó như một điểm quy chiếu thường xuyên (số 17–18).

Trong loạt bài gồm ba phần này, tôi xin trình bày một phân tích về những giải thích của Huấn quyền thông thường liên quan đến bản chất của tính hiệp hành, những lý do vì sao cần nhấn mạnh đến tính hiệp hành trong bối cảnh hiện nay, cũng như một số thực hành đặc biệt thích hợp cho đời sống giáo phận.[1] Khi thực hiện điều này, tôi tập trung vào những đóng góp phong phú của Đức Giáo hoàng Phanxicô và các kết luận do Thượng Hội đồng Giám mục về tính hiệp hành công bố. Ngoài ra, tôi cũng dựa trên kinh nghiệm tham gia trực tiếp của mình trong các giai đoạn khác nhau của tiến trình Thượng Hội đồng tại giáo phận, khu vực nơi tôi mục vụ và trong Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ (USCCB).

Do tập trung vào tính hiệp hành và đời sống giáo phận, loạt bài này không bàn đến những vấn đề phát sinh từ Thượng Hội đồng liên quan đến toàn thể Giáo hội, vốn đòi hỏi thời gian để được nghiên cứu sâu hơn, phân định cẩn trọng và đưa ra quyết định.[2] Đối với những chủ đề ấy, công việc của Đức Giáo hoàng, Giám mục đoàn, các Bộ liên hệ của Giáo triều Rôma, cũng như chính Thượng Hội đồng Giám mục, vẫn đang tiếp tục. Nhằm phục vụ mục tiêu đó, Đức Phanxicô đã thiết lập mười nhóm nghiên cứu, và cho đến nay Đức Lêô XIV đã chuẩn nhận và mở rộng các nhóm này, với nhiệm vụ xem xét một số vấn đề thần học và giáo luật nảy sinh trong tiến trình hiệp hành. Chẳng hạn, các nhóm đang suy tư về những khả năng cải tổ văn kiện quy định việc đào tạo các linh mục tương lai cũng như Bộ Giáo luật. Ngoài ra, các nhóm còn mời gọi các chuyên gia và mục tử đến từ khắp nơi trên thế giới để nghiên cứu một số vấn đề thần học liên quan đến thừa tác vụ giám mục, sứ mạng loan báo Tin mừng, đại kết, công bằng xã hội, việc phụ nữ có thể được lãnh nhận thừa tác vụ phó tế, và nhiều vấn đề khác nữa.[3] Mục tiêu của việc thành lập các nhóm này không phải là trì hoãn các quyết định vô thời hạn, nhưng là thể hiện một phong cách hiệp hành theo huấn quyền của Giáo hội nói chung, và sứ vụ Phêrô nói riêng.[4] Như đã nói, tôi tạm gác lại các chủ đề này để làm nổi bật chiều kích thần học, linh đạo và các thực hành của tính hiệp hành có thể được thể hiện cụ thể trong đời sống giáo phận, trong giai đoạn thực hiện Thượng Hội đồng.

Để thực hiện điều đó, tôi dành sự chú ý đặc biệt đến Văn kiện Chung kết của Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục, bởi vì Đức Phanxicô đã quyết định chấp nhận văn kiện này và đặt nó vào trong “Huấn quyền thông thường của Đấng kế vị Thánh Phêrô.”[5] Văn kiện này đưa ra “những định hướng có thẩm quyền cho đời sống và sứ mạng của Giáo hội”, nhưng không mang “tính quy phạm bắt buộc”.[6] Vì thế, chúng ta cần hiểu những xác tín về thần học, linh đạo và cách thức thực hành của văn kiện, để chúng có thể được sử dụng nhằm định hướng đời sống của Giáo hội địa phương. Tựu trung, Văn kiện Chung kết là “một hồng ân dành cho toàn thể Dân Thiên Chúa”, và “những nội dung của văn kiện cần được làm cho dễ tiếp cận trong các Giáo hội địa phương.”[7] Mục tiêu là giúp toàn thể tín hữu hiểu được tính hiệp hành là gì, thể hiện những lý tưởng mà tính hiệp hành mời gọi trong đời sống, và giúp các Giáo hội địa phương thực thi những đề xuất mang tính thẩm quyền được nêu trong Văn kiện Chung kết trong bối cảnh riêng của mình.[8] Cách riêng, như Đức Phanxicô đã nhấn mạnh trong ghi chú kèm theo văn kiện,[9] việc đưa ra những chọn lựa phù hợp với các nguyên tắc và đề nghị của Văn kiện Chung kết đòi hỏi việc sống trọn vẹn những gì đã thuộc về luật của Giáo hội, nhưng cho đến nay chưa được thực hiện cách hữu hiệu.

Hơn nữa, tính hiệp hành đòi hỏi một tiến trình hoán cải, nhằm loại bỏ mọi trở ngại đối với việc sống sự hiệp thông đích thực với Thiên Chúa và với nhau, như Tin mừng mời gọi chúng ta. Một mặt, điều này bao hàm sự sẵn sàng học hỏi những cách thức mới để cùng nhau đưa ra quyết định, và mặt khác, tìm kiếm những nẻo đường sáng tạo mới trong hoạt động truyền giáo. Đức Phanxicô đã bày tỏ ước muốn để “những hoa trái qua việc lắng nghe và phân định trong những năm qua ” được “đón nhận và tiếp thu.”[10] Đức Thánh cha Lêô XIV cũng lặp lại cùng một thao thức ấy, khi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lớn lên trong tính hiệp hành, “một từ ngữ Giáo hội” diễn tả ước muốn của Thiên Chúa là chúng ta sống hiệp nhất, yêu thương như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta.[11] Việc khởi đầu giai đoạn thực hiện Thượng Hội đồng trao cho chúng ta cơ hội cụ thể để đáp lại những thao thức ấy, bằng cách bắt đầu thể hiện lối sống hiệp hành trong đời sống giáo phận.

Vì sao chúng ta cần tính hiệp hành?

Trong một diễn văn quen thuộc, nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Thượng Hội đồng Giám mục, Đức Phanxicô đã nhận định rằng con đường hiệp hành chính là điều “Thiên Chúa mong đợi nơi Giáo hội của thiên niên kỷ thứ ba.”[12] Sự dấn thân cho tính hiệp hành như thế gắn liền với cách Đức Phanxicô hiểu về “sự chuyển đổi mang tính thời đại”[13] mà chúng ta đang trải qua. Những lý do dẫn đến các biến chuyển sâu sắc ấy thì nhiều, nhưng trong số đó, Đức Phanxicô thường đặc biệt nhấn mạnh đến hai nguyên nhân.

Trước hết, sự chuyển đổi mang tính thời đại mà chúng ta đang trải qua được đặc trưng bởi những tiến bộ nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đã nhanh chóng được áp dụng vào nhiều khía cạnh của đời sống con người và môi trường sống (x. Evangelii Gaudium, số 52). Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên thông tin, nơi mạng xã hội, các thuật toán, công nghệ máy móc, mạng lưới các thiết bị thông minh được kết nối ngày càng trở nên phổ biến khắp nơi. Chúng ta đứng trước nguy cơ “trở nên giàu có về công nghệ nhưng nghèo nàn về nhân tính.”[14] Cuộc cách mạng kỹ thuật số mở ra những khả năng đáng kinh ngạc, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, kéo theo những vấn đề và căn bệnh xã hội. Chúng ta đang đối diện với một tình trạng trong đó, “khi tìm cách vượt qua mọi giới hạn bằng công nghệ, với nỗi ám ảnh muốn kiểm soát mọi sự, chúng ta có nguy cơ đánh mất quyền kiểm soát chính mình; và trong hành trình tìm kiếm một sự tự do tuyệt đối, chúng ta có nguy cơ rơi vào vòng xoáy của một ‘nền độc tài công nghệ.’”[15] “Mô hình kỹ trị, được thúc đẩy bởi […] sự tự phụ cho rằng con người có thể cho mình là đủ,” đe dọa dẫn chúng ta đến một thế giới nơi “những bất bình đẳng có thể gia tăng đến mức mất cân đối, tri thức và của cải tập trung trong tay một thiểu số, và kéo theo những nguy cơ nghiêm trọng đối với các xã hội dân chủ và sự chung sống hòa bình.”[16]

Hơn nữa, có một mối liên hệ sâu xa giữa mô hình kỹ trị, mô hình giản lược mọi sự về tính hữu dụng, và điều mà Đức Phanxicô gọi là “văn hóa loại bỏ”, trong đó mọi sự và cả con người đều có thể bị xem như đồ dùng một lần, một thực trạng đang lan rộng ngày nay (x. Evangelii Gaudium, số 52).[17] Đó là một não trạng “trong đó mọi sự đều có giá, mọi sự đều có thể mua bán, mọi sự đều có thể thương lượng. Lối tư duy này chỉ dành chỗ cho một số ít, còn tất cả những ai không còn hữu dụng thì bị loại bỏ.”[18] Não trạng ấy tạo ra một “toàn cầu hóa của sự dửng dưng” (x. Evangelii Gaudium, số 54), che khuất và làm người ta quên đi những tiếng kêu cứu của những người dễ bị tổn thương nhất, như thai nhi, người nghèo và người cao tuổi. Sau cùng, như Văn kiện Chung kết giải thích, môi trường kỹ thuật số có tác động rất lớn “đối với quá trình học tập, khả năng tập trung, nhận thức về bản thân và thế giới, cũng như việc xây dựng các mối tương quan liên nhân vị. […] Dù truyền thông kỹ thuật số có tiềm năng lớn trong việc cải thiện đời sống con người, nhưng nó cũng có thể gây tổn hại và nguy hiểm qua các hình thức như bắt nạt, thông tin sai lệch, khai thác tình dục và nghiện ngập.” (Văn kiện Chung kết, số 149).

Thứ hai, Đức Phanxicô dạy rằng sự chuyển đổi mang tính thời đại còn được ghi dấu bởi thực tế là “chúng ta đã chuyển từ một Kitô giáo được đặt trong một khung cảnh xã hội thuận lợi sang một Kitô giáo ‘thiểu số’, hay đúng hơn, một Kitô giáo của chứng tá.”[19] Đặc biệt tại phương Tây, chúng ta không còn sống trong những xã hội nơi đức tin định hình “đời sống của các dân tộc và các thể chế chính trị của họ.”[20] Ngày nay, “câu hỏi về Thiên Chúa dường như đang dần rút khỏi ý thức con người, khi con người ngày càng trở nên dửng dưng trước sự hiện diện và Lời của Người.”[21] Hệ quả là chúng ta đang đối diện với một bối cảnh mang tính nước đôi, căng thẳng giữa hai thái cực đối lập. Một mặt, “chúng ta đang chìm trong một nền văn hóa được đánh dấu bởi sự khước từ việc tìm kiếm chân lý. Chúng ta đã đánh mất niềm đam mê mãnh liệt đối với việc truy tìm chân lý,” và tự an ủi mình bằng quan niệm cho rằng “mọi sự đều ngang nhau, mọi sự đều giống nhau, mọi sự đều tương đối.” Chúng ta sống trong một “tình trạng bất định thường xuyên, sự thiếu vắng nhiệt huyết khiến con người cảm thấy việc tìm kiếm ý nghĩa không còn cần thiết và thực tại thì vượt quá khả năng hiểu biết.”[22] Mặt khác, “chúng ta lại đứng trước nguy cơ rơi vào một ‘chủ nghĩa duy lý không có linh hồn’,” vốn chỉ xem “những gì có thể đo lường, kiểm chứng bằng thực nghiệm và chạm tới được, như thể đời sống chỉ bị giới hạn vào những gì là vật chất và có thể nhìn thấy” là chân thật. Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh như thế, chúng ta thường bằng lòng với một đời sống hời hợt, loại bỏ sự hiện diện của điều kỳ diệu, làm nghèo nàn lý trí của mình, và khiến chúng ta khó đảm nhận thách đố theo đuổi “chân lý bị ẩn khuất có thể trả lời cho những câu hỏi căn bản của con người.”[23]

Rõ ràng, sự chuyển đổi mang tính thời đại mà chúng ta đang trải qua đã tác động sâu sắc đến Giáo hội và đời sống đức tin. Đức Phanxicô nhìn nhận rằng cuộc cách mạng kỹ thuật số và chủ nghĩa thế tục đã “tạo ra những khó khăn to lớn: từ việc đánh mất cảm thức thuộc về cộng đoàn Kitô hữu, đến sự thờ ơ đối với đức tin và nội dung của đức tin,”[24] cho tới những trải nghiệm về “sự cô đơn và bị gạt ra bên lề, ngay cả khi chúng ta được kết nối với nhau nhiều hơn bao giờ hết” (Văn kiện Chung kết, số 113).

Tuy nhiên, Đức Phanxicô khích lệ chúng ta rằng chúng ta “không được nản lòng.”[25] Ngay cả cuộc khủng hoảng cũng có thể trở thành “một cơ hội quý giá”, bởi vì nó thúc đẩy chúng ta “trở về với điều cốt yếu, đó là Tin mừng.”[26] Và Tin mừng do Đức Kitô mang đến, Ngôi Lời Nhập Thể, vẫn luôn có khả năng gặp gỡ và biến đổi con người hôm nay. Thật vậy, giữa bao sự giản lược, khó khăn và hỗn độn do hoàn cảnh hiện tại gây ra, “trái tim con người vẫn luôn đi tìm một chân lý có thể nuôi dưỡng và làm thỏa mãn khát vọng hạnh phúc của mình. Chúng ta không thể thỏa mãn chỉ với những lời nói của con người, với lối suy nghĩ của thế gian và những phán đoán trần tục. Chúng ta luôn cần một ánh sáng từ trời cao để soi dẫn mỗi bước chân chúng ta đi, cần dòng nước hằng sống để làm dịu cơn khát nơi những sa mạc của tâm hồn, cần một niềm an ủi không làm chúng ta thất vọng, bởi vì nó đến từ trời cao chứ không phải từ những thực tại chóng qua của thế gian này.”[27] Theo Đức Phanxicô, thách đố lớn nhất của Giáo hội ngày nay không hẳn là môi trường mà chúng ta đang sống, nhưng là “vượt qua sự đứt gãy đã xảy ra trong việc thông truyền đức tin.”[28] Ngài suy tư: “Đức Kitô là trung tâm quy tụ của toàn bộ thực tại; Người là câu trả lời cho mọi vấn nạn của con người; Người là sự viên mãn của mọi khát vọng về hạnh phúc, thiện hảo, tình yêu và vĩnh cửu đang hiện diện trong trái tim con người.”[29]

Giữa sự chuyển đổi mang tính thời đại, chúng ta cần đến những chứng nhân biết loan báo “sự hiện diện của Thiên Chúa trong mọi dân tộc và mọi nền văn hóa, đáp lại những khát vọng về tình yêu và chân lý, về công lý và hạnh phúc vốn nằm sâu trong trái tim con người và đang rung nhịp trong đời sống các dân tộc.”[30] Thật vậy, điều quan trọng là nhận ra rằng ngay cả “những người không tin hoặc đã xa rời việc thực hành tôn giáo cũng không xa lạ với việc tìm kiếm chân lý, công lý và tình liên đới.” Ngài nói tiếp, thường khi “dù không thuộc về một tôn giáo nào, họ vẫn mang trong lòng một khát khao lớn lao, một cuộc tìm kiếm ý nghĩa, khiến họ suy tư về mầu nhiệm sự sống và tìm kiếm những giá trị cốt lõi vì thiện ích chung.”[31]Vì thế, như Đức Phanxicô đã nói trong thông điệp cuối cùng của ngài (đáng chú ý là được công bố khi Thượng Hội đồng Giám mục đang diễn ra), rằng ngay cả hôm nay con người vẫn có thể dừng chạy theo “những thỏa mãn hời hợt và diễn xuất để làm vừa lòng người khác,” để bắt đầu suy tư về những câu hỏi thực sự quan trọng của đời sống: “Tôi thực sự là ai? Tôi đang tìm kiếm điều gì? Tôi muốn định hướng thế nào cho đời mình, cho những quyết định và những hành động của mình? Tại sao tôi có mặt trên đời này, và nhằm mục đích gì?” (Dilexit Nos, số 8).

Đây là những câu hỏi cấp bách mà Giáo hội đang phải đối diện hôm nay: điều gì có thể giúp con người tái kết nối với nhân tính đích thực của mình, giải thoát họ khỏi mọi xao lãng và những sự giản lược? Điều gì có thể khiến họ hướng ánh mắt ra khỏi màn hình hay tạm dừng những ồn ào đang vây bủa đôi tai? Ngay từ đầu triều đại giáo hoàng của mình, Đức Phanxicô đã đưa ra một câu trả lời rõ ràng cho những câu hỏi ấy. Ngài giải thích, “để có thể thông truyền đức tin vào Đức Kitô Phục Sinh, trung tâm của công cuộc Phúc Âm hóa, đòi hỏi […] một cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Kitô [có sức biến đổi đời sống chúng ta]. Không có cuộc gặp gỡ này, một cuộc gặp gỡ chân thật và hiện sinh, chúng ta sẽ luôn rơi vào cám dỗ biến đức tin thành một lý thuyết hơn là một chứng tá sống động.”[32] Vì thế, Đức Phanxicô mời gọi chúng ta phải trở thành những chứng nhân đáng tin cậy, cho thấy rằng Kitô giáo không hệ tại ở “một chuỗi những điều cấm đoán bóp nghẹt khát vọng hạnh phúc, nhưng là một cuộc sống có định hướng và có khả năng mang lại sự viên mãn cho mọi trái tim con người.[33] Như Tông huấn Evangelii Gaudium khẳng định, Giáo hội cần trở về với Kerygma, lời loan báo đầu tiên và cốt yếu về “tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, tình yêu đi trước mọi bổn phận luân lý hay tôn giáo của chúng ta” (Evangelii Gaudium, số 165). Lời loan báo ấy “không được áp đặt sự thật nhưng kêu gọi tự do; nó phải được đánh dấu bằng niềm vui, sự khích lệ, sức sống và một sự cân bằng hài hoà để không giản lược việc rao giảng vào một ít giáo thuyết đôi khi mang tính triết học hơn là tính phúc âm (Evangelii Gaudium, số 165). Hơn nữa, đó là lời loan báo đòi hỏi “một số thái độ nuôi dưỡng sự mở lòng ra cho sứ điệp: dễ đến gần, sẵn sàng đối thoại, kiên nhẫn, nồng ấm, niềm nở, tóm lại là thái độ không phê phán (Evangelii Gaudium, số 165). Đức Phanxicô không ngừng nhắc nhở chúng ta rằng “đây chính là sứ điệp có khả năng đáp lại khát vọng về sự vô biên luôn nằm trong trái tim mỗi người.” (Evangelii Gaudium, số 165).

Trong bối cảnh ngày nay, Đức Phanxicô thường chia sẻ rằng ngài mơ ước một Giáo hội biết để mình được hướng dẫn bởi “một nỗ lực truyền giáo có khả năng biến đổi mọi sự, để các thói quen, các cách hành động, các giờ giấc và chương trình, ngôn ngữ và các cơ cấu của Hội thánh có thể được khai thông thích hợp cho việc loan báo Tin mừng cho thế giới hôm nay, hơn là cho sự bảo tồn của Hội thánh (Evangelii Gaudium, số 27).

Chúng ta đang sống trong một bối cảnh mà “Tin mừng Đức Giêsu mang đến cho thế giới cần được loan báo lại cho mọi người và để cho vẻ đẹp của Tin mừng được tỏa sáng trọn vẹn.”[34] Trước thực trạng hiện nay, đức tin không còn có thể được xem là điều hiển nhiên, cũng không thể chỉ được thông truyền một cách tự nhiên nhờ sự nâng đỡ của một nền văn hóa Kitô giáo rộng lớn hơn. Giáo hội được mời gọi trở thành một cộng đoàn đi ra để loan báo Tin mừng. Chúng ta phải trở thành một cộng đoàn “biết rằng Chúa đã có sáng kiến, Ngài đã yêu chúng ta trước (x. Ga 4:19), và vì thế chúng ta có thể dấn bước, mạnh dạn có sáng kiến, đến với người khác, tìm kiếm những người sa ngã, đứng ở các ngả đường để đón mời những người bị gạt ra bên lề” (Evangelii Gaudium, số 24). Đó là một cộng đoàn biểu lộ lòng thương xót vô biên của Chúa Cha, dấn thân vào đời sống thường ngày của con người và đồng hành với họ trên hành trình, cho dù hành trình ấy có thể dài và đầy gian nan (x. Evangelii Gaudium, số 24).

Chính trong ánh sáng của những nhận định ấy mà Đức Phanxicô đã triệu tập toàn thể Giáo hội bước vào một tiến trình phân định và học hỏi, tập trung vào tính hiệp hành trong nhiều năm. Ngài thực hiện điều này vì xác tín rằng một Giáo hội hiệp hành hơn, biết dành nhiều không gian hơn cho sự hiệp thông, tham gia và sứ mạng, như chính chủ đề của Thượng Hội đồng, là điều thiết yếu để Giáo hội trung thành với bản chất và sứ mạng của mình trong thời điểm hiện tại. Hiệp hành là một phong cách và một phương pháp để sống đời sống và mầu nhiệm của Giáo hội, phù hợp với những khó khăn đặc thù mà chúng ta đang trải qua hôm nay. Hiệp hành không nhằm thay đổi “những chân lý truyền thống của giáo lý Kitô giáo”; trái lại, hiệp hành quan tâm đến “cách thức giáo huấn ấy được sống và được áp dụng trong những bối cảnh biến đổi của thời đại chúng ta.”[35] Hành trình hiệp hành đã giúp Giáo hội suy tư về cách thức thể hiện cách trọn vẹn hơn những cam kết Kitô giáo, hầu có thể đối diện với các thách đố của hôm nay.

Như Đức Giáo hoàng Lêô XIV giải thích, một Giáo hội hiệp hành là Giáo hội “bước đi trên con đường do lịch sử vạch ra, đồng thời đối diện với những thách đố mới mẻ của công cuộc Phúc Âm hóa.”[36] Đó là một Giáo hội không ngừng canh tân, bằng cách xem xét hoàn cảnh hiện tại và phân định xem Chúa Thánh Thần đang mời gọi toàn thể Kitô hữu trở thành những chứng nhân đáng tin cậy của Đức Kitô Phục sinh như thế nào.

Hoài Ân

Chuyển ngữ từ: hprweb.com

______________

[1] Kristin M. Colberg and Jos Moons, The Future of Synodality: How We Move Forward from Here (Liturgical Press, 2025). Marc Ouellet, Word, Sacrament, Charism: The Risks and Opportunities of a Synodal Church (Ignatius Press, 2025). Timothy Radcliffe, Listening Together: Meditations on Synodality (Liturgical Press, 2024). Anthony Fisher, Unity in Christ: Bishops, Synodality, and Communion (Catholic University of America Press, 2023). Rafael Luciani, Synodality: A New Way of Proceeding in the Church (Paulist Press, 2022). Furthermore, diverse and reputable journals have devoted entire issues to the topic. For example, see Journal of Moral Theology 13, Special Issue no. 2 (2024), Theological Studies 84, no. 1 (2023), The Thomist 87, no. 2 (2023), and Communio: International Catholic Review 48, no. 4 (2021).

[2] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn bế mạc Khóa họp thứ hai của Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XVI” (Chúa nhật ngày 26/10/2024).

[3] Để biết danh sách đầy đủ các nhóm Nghiên cứu, xin xem Văn kiện Chung kết, số 8. Thành viên của các nhóm này, ngoại trừ Nhóm 6 được công bố bởi Tổng Thư ký Thượng Hội đồng xem ở đây. Đức Phanxicô đã chính thức thiết lập các nhóm này qua “Phúc chiếu của Đức Giáo hoàng về sự cộng tác giữa các Bộ của Giáo triều Rôma và Tổng Thư ký Thượng Hội đồng.” (16/12/2024). Đức Giáo hoàng đã trao phó việc điều phối hoạt động của các nhóm này cho Tổng Thư ký Thượng Hội đồng trong “Thư gửi Đức Hồng y Mario Grech,” (22/12/2024). Sau cùng, Tổng Thư ký Thượng Hội đồng đã trình bày cách chi tiết nhiệm vụ và phương pháp làm việc của các nhóm Nghiên cứu trong văn kiện mang tựa đề: “Các nhóm Nghiên cứu về những vấn đề được nêu ra trong Khóa họp thứ nhất của Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục, sẽ được nghiên cứu trong sự cộng tác với các Bộ của Giáo triều Rôma.”

 (14/03/2024).

[4] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn bế mạc.”

[5] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Ghi chú đính kèm,” trong Văn kiện Chung kết của Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục thường lệ lần thứ XVI, số 3.

[6] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Ghi chú đính kèm,” 3

[7] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn bế mạc.”

[8] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn bế mạc.”

[9] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Ghi chú đính kèm,” 3–4

[10] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Ghi chú đính kèm,” 3.

[11] Đức Giáo hoàng Lêô XIV, “Bài giảng Lễ vọng Chúa Thánh Thần hiện xuống nhân dịp Năm thánh các phong trào Giáo hội” (07/06/2025). Xem “Phép lành Urbi et Orbi đầu tiên,” (08/05/2025), “Diễn văn với Hồng y đoàn,” (05/10/2025), “Diễn văn bế mạc Đại hội lần thứ 81 của Hội đồng Giám mục Ý,” (20/11/2025), và “Diễn văn khai mạc Công nghị Hồng y Ngoại thường,” (07/01/2026).

[12] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập Thượng Hội đồng Giám mục” (17/10/2015). Ủy ban Thần học Quốc tế đã cung cấp những định hướng thiết yếu về ý nghĩa của tính hiệp hành, lịch sử hình thành của nó, cũng như mối liên hệ của nó với mạc khải, trong văn kiện năm 2018 Tính hiệp hành trong đời sống và sứ mạng của Giáo hội. 

[13] Đức Phanxicô thường xuyên sử dụng cách diễn đạt này để mô tả bối cảnh đương đại. Chẳng hạn, trong một ví dụ gần đây Diễn văn cho các tham dự viên Đại hội toàn thể của bộ Văn hóa và giáo dục (21/11/2024).

[14] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Sứ điệp cho ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 58: Trí tuệ nhân tạo và sự khôn ngoan của trái tim,” (24/01/2025).

[15] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Sứ điệp cho ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 57: Trí tuệ nhân tạo và hòa bình,” (01/01/2024).

[16] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Sứ điệp cho ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 57.” Để tìm hiểu thêm về mối liên hệ giữa sự chuyển đổi mang tính thời đại và sự phát triển của ‘thế giới kỹ thuật số’, xem “Diễn văn trong cuộc gặp gỡ các thành viên tham dự Phiên họp toàn thể của Học viện Giáo hoàng về Sự sống,” (28/02/2020).

[17] Xem Laudato Si, các số 22, 115, và 123.

[18] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Bài giảng Thánh lễ tại Santa Cruz de la Sierra, Bolivia,” (09/07/2015).

[19] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn trong cuộc gặp gỡ với các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ, chủng sinh và các nhân viên mục vụ tại Brussels,” (28/09/2024).

[20] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn bế mạc tại Đại hội ‘La Religiosité Populaire en Méditerranée,’” (15/12/2024).

[21] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn bế mạc tại Đại hội ‘La Religiosité Populaire en Méditerranée,’”

[22] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn cho các giáo sư đại học tại Đại học Leuven,” (27/09/2024).

[23] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn cho các giáo sư đại học tại Đại học Leuven.”

[24] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn cho các tham dự viên Đại hội toàn thể của Bộ Truyền giáo,” (15/03/2024).

[25] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn cho các tham dự viên Đại hội toàn thể của Bộ Truyền giáo.”

[26] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn trong cuộc gặp gỡ với các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ, chủng sinh và các nhân viên mục vụ tại Brussels

[27] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Bài giảng Thánh lễ tại Jakarta, Indonesia,” (05/09/2024).

[28] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn cho các tham dự viên Đại hội toàn thể của Bộ Truyền giáo.”

[29] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn cho các thành viên Hiệp thông và giải phóng” (15/10/2022).

[30] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn cho các thành viên Hiệp thông và giải phóng” (15/10/2022).

[31] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn bế mạc tại Đại hội ‘La Religiosité Populaire en Méditerranée,’” 

[32] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn cho các tham dự viên Đại hội toàn thể của Bộ Truyền giáo.”

[33] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Greeting to the Participants in the ‘Syro-Malabar Youth Leaders Conference,’” (18/06/2022).

[34] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn trong cuộc gặp gỡ với các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ, chủng sinh và các nhân viên mục vụ tại Brussels

[35] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Let Us Dream: The Path to a Better Future (Simon & Schuster, 2020), 84–5.

[36] Đức Giáo hoàng Lêô XIV, “Diễn văn bế mạc Đại hội lần thứ 81 của Hội đồng Giám mục Ý.”

Nguồn: hdgmvietnam.com