Chuyến Tông Du Của Đức Thánh Cha Lêô XIV Đến Tây Ban Nha - Gặp Gỡ Với Các Tổ Chức Hoạt Động Vì Sự Hội Nhập Của Người Di Dân

14/06/2026
6
Header

Chuyển ngữ: Tri Khoan

WHĐ (14/6/2026) - Trong chặng cuối của chuyến tông du Tây Ban Nha, Đức Thánh cha Lêô XIV đã gặp các tổ chức hỗ trợ hội nhập người di dân tại Plaza del Cristo de La Laguna, một trong những quảng trường chính của đảo Tenerife, nơi có Đền thánh Chúa Kitô de La Laguna, với ảnh tượng Chúa Kitô được người dân Quần đảo Canary đặc biệt tôn kính.

Cuộc gặp gỡ với các tổ chức hoạt động vì sự hội nhập của người di dân

Vào khoảng 10 giờ 30 theo giờ địa phương (11 giờ 30 tại Rôma), Đức Thánh cha Lêô XIV rời Trung tâm Las Raíces và di chuyển bằng xe hơi đến Quảng trường Chúa Kitô (Plaza de Cristo) để gặp gỡ các tổ chức hoạt động vì sự hội nhập của người di dân, với sự hiện diện của khoảng bốn ngàn người.

Khi đến nơi, ngài được Đức cha Eloy Alberto Santiago Santiago của Giáo phận San Cristóbal de La Laguna đón tiếp.

Sau một bài thánh ca, lời chào mừng của Đức cha Tenerife, cùng những chứng từ của một linh mục người Venezuela và ba người di dân, Đức Thánh cha đã ngỏ lời với những người hiện diện.

Kết thúc cuộc gặp gỡ, Đức Giáo hoàng đã đi giữa các tín hữu bằng xe điện sân golf, rồi trở về tòa giám mục. Trên đường đi, ngài chào thăm một số người đau bệnh, các đại diện của một số dòng tu và các tín hữu. Sau đó, khi đến tòa giám mục, Đức Thánh cha Lêô XIV chào cộng đoàn Công giáo địa phương từ ban công.

Sau đây là bài diễn văn của Đức Thánh cha tại Quảng trường Chúa Kitô:

 Diễn văn của Đức Thánh Cha

Anh chị em thân mến,

Tôi rất vui được chia sẻ giây phút này với anh chị em nơi đây, tại San Cristóbal de La Laguna, trụ sở của giáo phận. Tôi rất ấn tượng trước những gì đã được nói về thành phố này: một thành phố không có những bức tường, một thành phố rộng mở.

Có lẽ chi tiết này giúp chúng ta hiểu rằng những rào cản khó phá bỏ nhất không phải luôn được xây bằng đá. Đôi khi chúng nằm ngay trong thái độ của chúng ta, trong nỗi sợ hãi hoặc sự thờ ơ. Biển cả bao quanh những hòn đảo này mang đến cho chúng ta những câu chuyện mà không phải lúc nào chúng ta cũng biết cách lý giải: những câu chuyện về đau khổ, hy vọng và sự kiếm tìm. Trong một thành phố không có những bức tường, con tim cũng được kêu gọi rộng mở để đón nhận những người mang theo các câu chuyện đó. Vì thế, chúng ta cần học ngôn ngữ của sự gần gũi, một ngôn ngữ được hiểu bằng đôi bàn tay nhiều hơn bằng lời nói.

Chữ nổi Braille và những hình thức chữ viết xúc giác khác nhắc nhở chúng ta rằng lời nói cũng có thể được truyền tải qua sự đụng chạm. Tương tự như vậy, sự hội nhập đòi hỏi chúng ta phải học cách đọc theo một phương thức khác. Có những người với đôi mắt nhìn thấy nhưng không nhận ra; họ biến một khuôn mặt thành một con số, biến một câu chuyện thành một hồ sơ, và sự khác biệt thành một khoảng cách. Vì thế, Tin mừng dạy chúng ta cách đọc thực tại sâu sắc hơn: một cách đọc phát xuất từ sự gần gũi, từ lòng kiên nhẫn và từ những đôi bàn tay có khả năng trợ giúp, đồng hành, hướng dẫn, giáo dục và mở ra những con đường.

Trong những nỗ lực nhằm hội nhập các anh chị em này của chúng ta, cũng như trong mọi công cuộc bác ái, Giáo hội học cách đọc thấy nơi cuộc sống cụ thể của những người đau khổ về thể xác hoặc tâm hồn một dấu chỉ sống động hướng về các Tin mừng. Dấu chỉ ấy trở nên dễ đọc nhờ sự tiếp xúc và gần gũi khi chúng ta cảm nhận những vết thương của người khác. Như Thánh Tôma trước thân thể vinh hiển của Đấng Phục sinh, Giáo hội cũng học được rằng khi nhìn qua lăng kính đức tin, các vết thương có thể trở thành nơi của sự nhận biết. Nơi nào đau khổ của con người được chạm đến bằng tình yêu, nơi đó Đức Kitô khẳng định với chúng ta rằng Người hiện diện trong những người đói khát, người trần trụi, người đau yếu, người tù đày và người ngoại kiều (x. Mt 25:35–40). Từ đức tin nhận biết Đức Kitô hằng sống đó đã khơi nguồn cho việc phục vụ của Cha Darwin và biết bao người khác. Đức ái Kitô giáo tuôn trào từ tình yêu Thiên Chúa được tuôn đổ vào tâm hồn người tín hữu; vì thế, trước những người túng thiếu, đức tin trở nên cụ thể và tình yêu dành cho Đức Kitô được chuyển hóa thành hành động.

Từ xác tín này, sự hiện diện của chúng ta làm chứng cho sự thật rằng tình liên đới nảy sinh từ việc nhìn nhận phẩm giá con người và vượt lên trên mọi hành vi từ thiện hay cứu trợ thuần túy. Nó được kêu gọi trở thành một cam kết và mang hình thức của một tiến trình. Tiếp đón mở cánh cửa; hội nhập giúp người ta bước qua ngưỡng cửa ấy. Trợ giúp xức dầu làm dịu vết thương; và hội nhập tái thiết tương lai.

Hội nhập không có nghĩa là xóa bỏ lịch sử của những người mới đến hoặc đòi hỏi họ phải bỏ lại phía sau mọi điều thuộc về ký ức của họ. Hội nhập cũng không có nghĩa là tạo nên những thế giới song song, khép kín với nhau, nơi người ta sống cạnh nhau mà không thực sự gặp gỡ nhau. Hội nhập là một hành trình tương hỗ: những người mới đến học cách cư ngụ trên một vùng đất mới, và những người đón tiếp họ học cách mở rộng ngôi nhà của mình mà không làm lu mờ bản sắc của mình hay đóng cửa lòng trước cuộc gặp gỡ. Anh chị em di dân thân mến, một phần cao quý và cần thiết của hành trình này thuộc về anh chị em: hãy tin tưởng mở lòng với cộng đồng đón nhận mình, học ngôn ngữ của họ, tôn trọng luật pháp của họ, tìm hiểu các phong tục của họ, tham gia vào đời sống cộng đồng và trao tặng những ân huệ của mình với lòng biết ơn.

Mọi xã hội đón tiếp đều có những trách nhiệm đối với những người mới đến, và những người được đón nhận cũng khám phá ra rằng phẩm giá, vốn được nhìn nhận như một quyền, sẽ triển nở khi nó trở thành một bổn phận và một khát vọng chân thành cùng xây dựng với tha nhân. Nhờ đó, những người từng đến như người xa lạ có thể tìm lại các mối dây liên kết, tái lập lòng tin và cảm nhận mình là một phần sống động của cộng đồng. Đây là một hình thức quý giá của lòng thương xót.

Trên hết, chúng ta đang nói đến những con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, chứ không phải những phạm trù pháp lý hay những vấn đề cần được quản lý. Sau những hành trình gian nan và đôi khi phải trải qua nhiều lần thử sức, như trường hợp của Khalid, họ tìm kiếm một người có thể nói với họ bằng hành động hơn là bằng lời nói rằng: cuộc đời bạn không vô nghĩa; đau khổ của bạn không phải là vô hình; phẩm giá của bạn không bị cuốn trôi theo những dòng nước mà bạn đã vượt qua, như Mbacke đã chia sẻ với chúng ta. Tuy nhiên, họ cũng tìm kiếm điều gì đó hơn thế nữa: một cơ hội cụ thể để bắt đầu lại, để học tập, làm việc, phục vụ, tham gia và không mãi mãi bị giam hãm trong vai trò nạn nhân.

Về phương diện này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với những lời của Đức Cha Eloy, và qua đó, đối với chứng tá của một Giáo hội dù với nguồn lực hạn chế vẫn cố gắng “tiến bước cùng những người đang bước đi”. Cảm ơn Caritas giáo phận, Văn phòng Di dân giáo phận, các giáo xứ và rất nhiều tổ chức giáo hội cũng như dân sự, những tổ chức đã vượt ra ngoài việc cung cấp cứu trợ khẩn cấp mà còn hỗ trợ các tiến trình bảo vệ, thăng tiến và hội nhập. Cảm ơn anh chị em vì đã giúp những người từng được đồng hành có thể trở thành, như Thalia đã nhắc nhở chúng ta, những nhịp cầu cho người khác, trao lại tình yêu mà họ đã nhận được. Khi những người từng cần một bàn tay nâng đỡ bắt đầu dang rộng bàn tay của họ, thì đức ái đã nhận được sẽ biến đổi thành trách nhiệm được chia sẻ.

Đồng thời, chúng ta không thể quên rất nhiều người di dân đến từ châu Mỹ Latinh, Philippines và nhiều nơi khác trên thế giới, những người đã trở thành một phần sống động của cộng đồng. Qua đức tin, lao động và các ân ban của mình, họ góp phần đổi mới cộng đồng. Anh chị em cũng hãy để mình được phúc âm hóa bởi họ, vì chắc chắn họ mang theo những ân ban mà Đấng Quan phòng muốn gửi đến cho anh chị em qua những người đang hội nhập. Họ nhắc nhở chúng ta rằng hội nhập có nghĩa là tạo không gian để mỗi người cảm nhận trách nhiệm chung. Nhờ đó, người xa lạ của ngày hôm qua có thể trở thành người anh chị em và người thân cận của ngày hôm nay.

Tôi cũng muốn xin các tín hữu Công giáo một điều khác nữa: đó là đừng để việc hội nhập bị thu hẹp thành một công việc xã hội, dù đó là điều cần thiết. Những người đến với các giáo xứ của chúng ta cần bánh ăn, nơi trú ngụ, sự hỗ trợ ngôn ngữ, việc làm và sự bảo vệ. Họ cũng cần tìm được một cộng đồng có khả năng giới thiệu cho họ những con đường để nhận biết Đức Giêsu Kitô qua chứng tá đời sống và lời nói, đồng thời luôn tôn trọng lương tâm và tự do của mỗi người. Loan báo Tin mừng là chia sẻ kho tàng nâng đỡ hành động và niềm hy vọng của chúng ta với lòng tôn trọng và khiêm nhường. Một Giáo hội đón tiếp cũng là một Giáo hội loan báo, trao tặng Đức Kitô mà không áp đặt Người, đồng thời đón nhận Tin mừng từ chính đôi tay của người nghèo.

Lương tâm con người, và hơn thế nữa là lương tâm Kitô giáo, không thể giữ thái độ thờ ơ trước những nghĩa trang giữa biển khơi này, trước những nạn nhân của các vụ đắm tàu và thiếu vắng cứu trợ. Mỗi mạng sống bị mất đi trên những tuyến đường đó là một thất bại của gia đình nhân loại. Tuy nhiên, còn có một vụ đắm tàu âm thầm khác xảy ra sau khi đến nơi: bị bỏ mặc đơn độc trong thành phố, không tiếng nói, không có các mối liên kết, không việc làm, không cảm giác an toàn, và bị khai thác bởi những kẻ lợi dụng sự dễ bị tổn thương của họ. Hội nhập có nghĩa là ngăn chặn vụ đắm tàu thứ hai đó. Nó có nghĩa là giúp những người đến trong tình trạng bị tổn thương không mãi bị kẹt trong nỗi đau của họ, nhưng có thể đứng dậy trên đôi chân của mình, nhận ra các ân ban của họ và cống hiến chúng cho cộng đồng.

Từ quảng trường này, tôi muốn gửi một thông điệp rõ ràng tới những người lợi dụng sự tuyệt vọng của người khác, đến những người tổ chức các con đường dẫn đến cái chết, buôn bán người, giữ giấy tờ, bóc lột người lao động, đe dọa phụ nữ, lừa dối các gia đình và biến đau khổ của người khác thành một việc kinh doanh. Hãy dừng lại. Hãy sám hối (x. Mc 1:15). Nước mắt và máu của những anh chị em này đang kêu thấu tới Thiên Chúa, và nỗi đau của họ đã chạm đến Người (x. St 4:10; Xh 3:7–9). Đồng tiền đoạt được từ sự mong manh của người nghèo sẽ không mang lại bình an, danh dự hay tương lai (x. Gr 22:13; G 5:1–6).

Vì mỗi mạng sống bị mất đi, mỗi gia đình bị lừa dối, mỗi thân xác bị áp bức, mỗi người phụ nữ bị đe dọa, mỗi người lao động bị bóc lột, các người sẽ phải ra trình diện trước công lý của Thiên Chúa (x. 2 Cr 5:10). Hãy bẻ gãy những xiềng xích đó và trả tự do cho những người mà các người đang kìm kẹp trong vòng nô lệ (x. Is 58:6). Hãy hoàn trả những gì đã chiếm đoạt và đền bù những tổn thất trong khả năng. Hãy sám hối khi vẫn còn thời gian, vì lòng thương xót của Thiên Chúa có thể chạm đến ngay cả người tội lỗi chai đá nhất, nhưng lòng thương xót ấy chỉ đi vào qua cửa hẹp của sự thật, công bình và sự hoán cải (x. Ed 33:11).

Anh chị em thân mến, sự sợ hãi, thờ ơ và bạo lực của những kẻ buôn bán mạng sống con người không được phép là tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói đó thuộc về Đức Kitô, Đấng đồng hóa mình với người ngoại kiều, chạm đến những vết thương của nhân loại và kêu gọi chúng ta nhận ra Ngài nơi mỗi người anh chị em cần được đón tiếp, bảo vệ, nâng đỡ và hội nhập. Chúng ta hãy ngước nhìn lên Người mà không ngoảnh mặt trước những người đang đau khổ; hãy hướng nhìn lên Chúa để học biết nhìn anh chị em mình bằng chính ánh mắt của Người.

Gia đình Thánh Nadarét đã phải trốn sang Ai Cập để bảo vệ sự sống của Hài Nhi Giêsu (x. Mt 2:13–15), mãi mãi là mẫu gương và nơi nương náu cho mọi gia đình tị nạn, mọi người di dân và mọi người buộc phải rời bỏ quê hương vì sợ hãi, vì bách hại hoặc túng quẫn (x. Đức Piô XII, Tông hiến Exsul Familia). Xin các Đấng trong Thánh Gia nâng đỡ công cuộc phục vụ của anh chị em và làm cho miền đất này trở thành nơi mà mọi người nhận biết và đối xử với nhau như anh chị em. Xin Thiên Chúa chúc phúc cho anh chị em. Cảm ơn anh chị em.

Chuyển ngữ từ: Vatican.va