
NHỮNG TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM THẦN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI
LIÊN QUAN ĐẾN CHÚA BA NGÔI “NHIỆM CỤC” VÀ CHÚA BA NGÔI “NỘI TẠI”
CHÚA BA NGÔI “NHIỆM CỤC” nói về Thiên Chúa Ba Ngôi trong chương trình cứu độ, tức là cách Thiên Chúa tỏ mình và hành động trong lịch sử cứu độ.
CHÚA BA NGÔI “NỘI TẠI” nói về chính đời sống nội tại của Thiên Chúa Ba Ngôi, như Ngài là trong chính mình từ đời đời.
1. KARL BARTH
Giáo lý Chúa Ba Ngôi trả lời cho câu hỏi về chủ thể của mạc khải được chứng thực trong Kinh Thánh. Có thể tóm lược câu trả lời này như sau: mạc khải được chứng thực trong Kinh Thánh là mạc khải của Thiên Chúa là Chúa Tể, nghĩa là của Chúa Cha, Đấng từ đó mặc khải phát xuất; của Chúa Con, Đấng thực hiện mặc khải ấy cho chúng ta; và của Chúa Thánh Thần, Đấng thực hiện mặc khải ấy một cách chủ quan trong chúng ta, và trong mỗi cách thức hiện hữu và hành động khác nhau của mình, Ngài vẫn là Thiên Chúa duy nhất. Thiên Chúa là chủ thể thường hằng của mạc khải. Ngài không bao giờ trở thành thuộc tính hay đối tượng cho hành động hay hiện hữu của chúng ta, cả trong hành động mạc khải của Ngài (Chúa Con) lẫn trong hữu thể được mạc khải của Ngài (Chúa Thánh Thần). Hành động và hữu thể này vẫn luôn là đặc tính riêng biệt thuộc về sự hiện hữu và hữu thể của chính Ngài.
Công thức Chúa Giêsu Kitô là Chúa (Pl 2,11; 1 Cr 12,13; Rm 10,9) không được hiểu như một mệnh đề tổng hợp, nhưng đúng hơn là một mệnh đề phân tích, theo nghĩa là Danh của Đức Giêsu Kitô chính là danh của Chúa[1].
Khi những người theo thuyết Nhất thể luận kiểu hình thái (Monarchianisme modaliste) như Noët de Smyrne, và đặc biệt là Sabellius cùng Priscillianus (mà trong thời cận đại, người ta có thể liên hệ với Friedrich Schleiermacher và các môn đệ của ông), khẳng định sự đồng bản thể của các “ngôi vị” Ba Ngôi, nhưng lại chỉ xem các ngôi vị ấy như những “cách thế” (modus), đằng sau đó bản thể đích thực và tối cao của Thiên Chúa vẫn ẩn mình, thì người ta có thể đặt câu hỏi liệu họ còn đứng trên nền tảng của mạc khải Kitô giáo hay không.
Có thể nào tin vào mạc khải ấy mà vẫn giữ một ý nghĩ ngầm rằng trong đó chúng ta không gặp chính Thiên Chúa như Ngài là, nhưng chỉ như Ngài “xem ra” là? Nếu hình thức của mạc khải thực sự khác với hình thức của hữu thể, thì điều đó có nghĩa là Thiên Chúa, trong mạc khải của Ngài, không thực sự là Thiên Chúa. Nhưng khi nghiêm túc đón nhận một “Thiên Chúa không thực sự là Thiên Chúa” như thế, người ta lại làm tổn hại chính nền độc thần mà họ muốn bảo vệ và bênh vực[2].
“Không ai biết Con, trừ ra Cha và kẻ mà Cha muốn mạc khải cho” (Mt 11,27); “Tôi biết các chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi và tôi biết Chúa Cha” (Ga 10,14). Vì cũng như Chúa Cha được mạc khải bởi Chúa Con, thì chính Chúa Con cũng chỉ được mạc khải bởi Chúa Cha (Mt 16,17). Cũng cần trích dẫn ở đây đoạn văn nổi tiếng: “Điều mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe, lòng người chưa hề nghĩ tới, đó là những điều Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Ngài. Nhưng Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta nhờ Thánh Thần. Vì Thánh Thần thấu suốt mọi sự, cả những chiều sâu của Thiên Chúa. Quả vậy, ai trong loài người biết được những gì nơi con người (tức là những điều của con người), nếu không phải là thần trí của con người ở trong họ? Cũng vậy, không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa (tức là những điều của Thiên Chúa), nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa. Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian, nhưng là Thần Khí phát xuất từ Thiên Chúa, để chúng ta nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta” (1 Cr 2,9–12).
Như thế, rõ ràng: tất cả đều tùy thuộc vào sự mạc khải của Chúa Cha, vào sứ vụ của Chúa Con và vào sự thông ban của Chúa Thánh Thần. Nhưng biến cố diễn ra trong mặc khải, vì lợi ích của chúng ta, chỉ là sự phản chiếu của một chuyển động vốn xảy ra ngay trong chính Thiên Chúa; nói cách khác, biến cố mạc khải chỉ tồn tại tùy theo hành vi mà qua đó Thiên Chúa tự biết chính mình, tùy theo tính khách quan độc đáo và nguyên thủy, nhờ đó Thiên Chúa trước hết có “đối diện thể” của chính mình trong mầu nhiệm Ba Ngôi, khi Ngài là Chúa Cha và Chúa Con trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần.
Do đó, khi sử dụng “những điều Thiên Chúa đã ban cho chúng ta bởi ân sủng”, nghĩa là khi được phép yêu mến và nhận biết Ngài như chính Ngài, trong sự sáng tỏ và chắc chắn, chúng ta không bao giờ được quên rằng Ngài luôn đi trước mọi bước đi của chúng ta. Và tại sao? Bởi vì trong mạc khải của Ngài, Ngài cho chúng ta tham dự vào chính chuyển động vốn hiện hữu trước hết nơi Ngài; vì thế, vai trò của chúng ta chỉ là bước theo và bắt chước Ngài, bằng cách tìm kiếm để nắm bắt, hiểu biết và chiêm ngắm Ngài, theo như Ngài muốn ban cho chúng ta[3].
2. HANS URS VON BALTHASAR
Theo Balthasar, điểm then chốt lớn trong tư tưởng của các Giáo phụ là sự phân biệt giữa Thiên Chúa trong chính Ngài, vượt trên mọi sự “ nội tại” và Thiên Chúa đoái thương hạ mình xuống từ sự cao cả vô biên của Ngài vì chúng ta “ nhiệm cục”. Nhưng tính nhưng không của “ nhiệm cục” hay sự hạ mình đầy ân huệ, tự hạ xuống để thích nghi với kẻ bé nhỏ hơn mình chỉ có thể được hiểu đúng khi, trong mọi lúc và trong mọi hình thức biểu lộ của “ nhiệm cục” ấy, người ta luôn hướng mắt về Đấng hạ mình, về Đấng thực hiện những điều như thế cho thụ tạo, đến nỗi Ngài đoái thương để cho thụ tạo có thể gặp gỡ và nhận biết Ngài.
Chúa Cha sai Chúa Con, và sự tỏ hiện hữu hình của Chúa Con biểu lộ đặc tính vô hình của Chúa Cha. Vì vậy, trong phạm vi “ nhiệm cục” không có gì được tách rời khỏi hậu cảnh nơi Đấng mà chúng ta phải thờ lạy trong thinh lặng. Không có gì có thể hiểu được nơi nhân tính của Chúa Con, nếu ngay từ đầu, nhân tính ấy không được nhận ra, được tin và được tôn thờ như là nhân tính của Đấng là Con của Chúa Cha trên trời[4].
Mối tương quan của Đức Giêsu với Chúa Cha không chỉ là sự diễn tả và biểu lộ riêng của nhân tính Ngài; ngang qua nhân tính ấy, đó còn là tương quan của chính ngôi vị Ngài, vốn không thể tách rời khỏi nhân tính. “Người Con” như chính Đức Giêsu tự xưng, là Con vĩnh cửu của Chúa Cha, Đấng mà Ngài ngỏ lời trong nhân tính mà Ngài đã lãnh nhận.
Đức Giêsu Kitô là Ngôi Lời của Thiên Chúa, Thiên Chúa bởi Thiên Chúa; với tư cách là Đức Kitô, Ngài là Ngôi Lời, là Sự Khôn Ngoan và là Quyền Năng; lời nói và hành động của Ngài không thể bị phân chia, như thể có những điều chỉ phát xuất từ con người, và những điều khác lại thêm từ thần tính của Ngài; cũng không thể coi như Nhập Thể, Thập Giá và Phục Sinh không phải là những hành vi của chính Ngôi Lời Thiên Chúa; cũng không thể nghĩ rằng Ngài không có “hai sự sinh ra: một sự sinh ra đời đời từ Chúa Cha, và một sự sinh ra trong thời gian từ Mẹ Ngài” ( Thư của Hoàng đế Michel Paléologue gửi Đức Giáo hoàng Grêgôriô X, ngày 6 tháng 7 năm 1274).
Người Con, Đấng duy nhất biết Chúa Cha trong sự thật trọn vẹn của Ngài, và cũng là Đấng duy nhất có thể mạc khải Chúa Cha cho con người đúng như Ngài là, không chỉ đơn thuần là con người Giêsu, nhưng chính là Con của Chúa Cha ( Mt 11,27)”[5].
3. D. WIEDERKEHR
Theo D. Wiederkehr, trao đổi sự sống luôn hiện hữu giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa Thánh Thần, điều mà giáo lý truyền thống về Ba Ngôi chính thống hiểu. Ngay khi việc Thiên Chúa thông ban cho Đức Giêsu quyền năng và bản tính thần linh không còn được nhìn như một biến cố, ngay khi Thiên Chúa là Cha không còn được nhận ra ở chân trời như là nguồn mạch thường hằng của việc làm Con, thì cũng đồng thời biến mất sự khác biệt bền vững giữa Thiên Chúa là Cha như mầu nhiệm vô nguyên và Người Con như Đấng xuất phát từ Cha và hành động từ nơi Cha. Hậu quả là xuất hiện một quan niệm tuyệt đối hóa thần tính của Đức Giêsu, nhưng lại không còn diễn tả được chiều kích Ba Ngôi của Ngài[6].
Nếu sự hoàn tất của lịch sử nhằm mục đích để Thiên Chúa, trong chính thực tại của Ngài, trở thành đối diện với thế giới đúng như Ngài là trong chính mình, và nếu tương quan cánh chung này giữa Thiên Chúa và thế giới luôn được trung gian hóa về mặt Kitô học, thì chính sự trực tiếp được trung gian ấy thuộc về bản chất riêng và vĩnh cửu của Thiên Chúa.
Chỉ từ việc làm Con được nhận ra trong viễn tượng cánh chung tức là sau biến cố mà việc làm Con tiền hữu mới được nhận biết và có thể tiếp tục được hiểu một cách đúng đắn.
Chúng ta lấy làm nền tảng và duy trì nguồn gốc tính làm Con và sự lệ thuộc thường hằng như là cấu trúc của cả tương quan lịch sử lẫn tương quan vĩnh cửu giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa. Sự tham dự cánh chung do Thiên Chúa ban và được Đức Giêsu lãnh nhận vào quyền tối thượng và vinh quang riêng của Thiên Chúa trong biến cố Phục Sinh, khi nhìn lại, xuất hiện như là sự biểu lộ trong lịch sử và là mặc khải hoàn tất của việc Thiên Chúa tự thông ban từ đời đời cho Người Con vĩnh cửu của Ngài; ngược lại, chính sự thông ban nội tại trong Thiên Chúa này lại được định hướng về việc ban tặng vinh quang thần linh diễn ra trong lịch sử nơi biến cố Phục Sinh.
Như vậy, biến cố nội tại nơi Thiên Chúa hướng tới một chân trời cánh chung mang tính phổ quát. Giáo lý về Ba Ngôi, vốn dường như xa vời nhất đối với lịch sử cứu độ và những chiều kích thời gian vốn là điều kiện phổ quát của sự hiện hữu nhân loại, nhờ sự tương hợp giữa việc làm Con trong lịch sử và việc làm Con vĩnh cửu của Đức Kitô, đã nhận được một ý nghĩa trực tiếp mang tính cứu độ.
Giáo lý Ba Ngôi nhận được một ý nghĩa cánh chung, và cánh chung học nhận được một cấu trúc Ba Ngôi; nhưng điều hợp nhất cả hai bình diện ấy chính là sự hiệp nhất làm Con của Đức Giêsu với Thiên Chúa. Trong viễn tượng này, có thể bảo tồn được vừa tính lịch sử đích thực của Đức Giêsu, vừa sự hiệp nhất siêu lịch sử của Ngài với Thiên Chúa[7].
4. J. MOLTMANN
Tân Ước nói về Thiên Chúa bằng cách loan báo, dưới hình thức tường thuật, các tương quan hiệp thông của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần những tương quan được mở ra cho thế giới.
Giáo lý về Chúa Ba Ngôi nội tại, xét như là sự tổng hợp của lời chúc tụng (doxologia), thuộc về lãnh vực cánh chung học. Ba Ngôi nhiệm cục sẽ hoàn tất trong Ba Ngôi nội tại khi lịch sử và kinh nghiệm cứu độ được hoàn thành. Khi mọi sự đều “ở trong Thiên Chúa” và “Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự”, thì Ba Ngôi nhiệm cục sẽ quy tụ về Ba Ngôi nội tại. Điều còn lại chính là lời ca tụng muôn đời dành cho Thiên Chúa Ba Ngôi trong vinh quang của Ngài.
Ý niệm về một Ba Ngôi nội tại, trong đó Thiên Chúa chỉ là cho chính mình mà thôi, không có tình yêu thông ban ơn cứu độ, sẽ đưa vào trong khái niệm về Thiên Chúa một yếu tố tùy tiện, làm phá vỡ chính khái niệm Kitô giáo về Thiên Chúa. Nếu Ba Ngôi nội tại là đối tượng của lời chúc tụng, thì việc nhận biết Ba Ngôi nhiệm cục như nội dung của lịch sử và kinh nghiệm cứu độ phải đi trước. Theo trật tự nhận thức, Ba Ngôi nhiệm cục đi trước Ba Ngôi nội tại; nhưng theo trật tự hữu thể, thì Ba Ngôi nhiệm cục lại theo sau[8].
Sự siêu việt của Đấng Chịu Đóng Đinh không phải là một “bên kia” siêu hình, nhưng là sự siêu việt của một sự khước từ cụ thể. Nó cũng làm đảo lộn những nhu cầu nhân học và những vấn nạn hiện sinh, nhờ đó Đức Giêsu được trình bày và diễn giải trong “Kitô học” hiện đại và biến đổi tận căn các mô hình và nguyên mẫu mà người ta thấy nơi Ngài.
Trong bối cảnh thần học của đời sống và lời rao giảng của Chúa Giêsu, điều được đặt vấn đề trong cái chết của Ngài không phải là nghịch lý chung về niềm tín thác vào Thiên Chúa giữa sự bị Thiên Chúa bỏ rơi, nhưng cách riêng là chính thần tính Thiên Chúa của Ngài. Vì thế, sự bị bỏ rơi được diễn tả qua tiếng kêu của Ngài khi trút hơi thở, được hiểu đúng qua lời Thánh vịnh 22, phải được hiểu cách đúng đắn như một biến cố giữa Đức Giêsu và Chúa Cha, và như vậy là một biến cố giữa Thiên Chúa với Thiên Chúa. Sự bỏ rơi trên thập giá, vốn làm cho Người Con như bị tách khỏi Chúa Cha, là một biến cố xảy ra ngay trong chính Thiên Chúa, là một sự “căng thẳng” trong Thiên Chúa, nếu ta vẫn giữ rằng Đức Giêsu đã làm chứng và đã sống chân lý của Thiên Chúa[9].
5. GH. LAFONT
Tiến trình chết và sống lại của Chúa Giêsu trải dài trong toàn bộ Kinh Thánh. Thánh Phaolô rao giảng Đức Giêsu chịu đóng đinh và cuộc Hiển linh của Con Thiên Chúa: thập giá và sự Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô, trong điều cốt yếu vượt lên trên chiều kích bi thảm của công cuộc Cứu độ. Trong ngôn ngữ biểu tượng của một đời sống con người, về sự trao đổi vĩnh cửu trong Ba Ngôi, chuyển động nền tảng của tự do, tự hiến ấy, chuyển động mà chúng ta thấy là nguồn gốc cái chết của Đức Kitô nhưng vẫn tồn tại như thái độ dứt khoát cho đến trong sự Phục Sinh. Vì thế trở thành dấu chỉ dẫn đưa chúng ta vào chiêm niệm các tiến trình phát xuất trong Ba Ngôi Thiên Chúa[10].
6. KARL RAHNER
Trong các khảo luận mang tựa đề “De gratia Christi”, giáo lý về ân sủng, thực ra mang tính độc thần: người ta thường nói rằng ân sủng là sự thông phần vào bản tính thần linh, mà cùng đích là được tham dự vào thị kiến diễm phúc về chính bản thể Thiên Chúa. Dĩ nhiên, người ta cũng thêm rằng ân sủng này đã được Đức Kitô đem lại.
Nhưng vì ân sủng ấy, trong trường hợp tốt nhất, chỉ được hiểu như là ân sủng của Thiên Chúa làm người, chứ không phải là ân sủng của Ngôi Lời nhập thể (nhập thể với tư cách là Logos), và vì ân sủng này lại được quan niệm như sự hoàn trả (nhưng không) của một ân sủng mà người ta thường hình dung rằng, trước sa ngã nguyên tổ, chỉ đơn thuần là ân sủng của Thiên Chúa, chứ không phải của Ngôi Lời (và càng không phải của Ngôi Lời sẽ nhập thể), nên hệ quả là khảo luận về ân sủng này cũng không dẫn tới, cả về phương diện thần học lẫn tôn giáo, mầu nhiệm của Thiên Chúa duy nhất và Ba Ngôi. Định đề mà Karl Rahner đưa ra : “ Chúa Ba Ngôi nhiệm cục là Chúa Ba Ngôi nội tại và ngược lại” [11].
7. W. KASPER
Đức Giêsu là Đức Kitô, nghĩa là Đấng Mêsia. Thật vậy, trong Cựu Ước, Đấng Mêsia được mong đợi đơn giản như Đấng mang Thần Khí (Is 11,2). Việc được xức dầu bởi Chúa Thánh Thần thiết lập Đức Giêsu làm Vua và Thượng Tế, và làm cho Ngài trở thành Đấng ban phát Thánh Thần cho tất cả những ai tin vào Ngài.
Trong Thánh Thần, Đức Kitô là Chúa và là Đầu của Hội Thánh là thân thể của Ngài (Rm 12,4; 1 Cr 12,4–13); Ngài là Thủ Lãnh của nhân loại mới và là Chủ Tể của lịch sử (Ep 1,22; Cl 1,18–20). Theo ngôn ngữ của tín lý truyền thống, Thánh Thần, với tư cách là gratia unionis (ân sủng hiệp nhất), không chỉ là ân sủng riêng của Ngài, mà đồng thời còn là gratia capitis (ân sủng của Đầu), từ Đức Kitô là Đầu tuôn tràn trên thân thể của Ngài là Hội Thánh, và được thông ban cho thế gian qua Hội Thánh.
Theo Kinh Thánh, con người không thuộc về chính mình, bởi vì họ thuộc về Thiên Chúa và hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài. Hơi thở của sự sống không bao giờ là một nguyên lý mà con người sở hữu hay thuộc về mình. Chỉ mình Thiên Chúa có sự sống và là Sự Sống. Thần Khí là sức sống của Thiên Chúa, là sự hiện diện sống động và ban sự sống của Ngài trong thế giới và trong lịch sử; Thần Khí là quyền năng sáng tạo và quyền năng hoạt động trong lịch sử của Thiên Chúa[12].
8. EBERHARD JÜNGEL
Trong mức độ Thiên Chúa đến gần con người trong lời rao giảng Tin Mừng, Ngài thực hiện chính nhân tính thuộc về thần tính của Ngài, hầu làm cho sự khác biệt giữa nhân tính thuộc về thần tính ấy và nhân tính của con người trở nên cụ thể.
Giáo lý Kitô giáo về Thiên Chúa Ba Ngôi là tinh túy của lịch sử Đức Giêsu Kitô, bởi vì chính khi phân biệt ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong một Thiên Chúa duy nhất, mà thực tại của lịch sử giữa Thiên Chúa và con người đạt tới chân lý của nó.
Trong giáo lý Ba Ngôi, tính lịch sử của Thiên Chúa được suy tư như là chân lý. Với sức mạnh của chân lý ấy, người ta có thể nói về Thiên Chúa theo cách Kitô giáo và kể lại hữu thể của Thiên Chúa như một lịch sử.
Thiên Chúa là Đấng yêu thương từ chính mình, Đấng không cần phải được con người yêu trước rồi mới có thể yêu. Và Ngài mạc khải điều đó chỉ bằng một cách duy nhất: là sai và ban “Con của Ngài” (1 Ga 4,10). Trong việc sai đi này, Thiên Chúa tỏ mình là Đấng yêu thương từ chính mình, trong tự do hoàn toàn. Theo cách nói của Gioan, chúng ta gọi Thiên Chúa là Chúa Cha khi nhận biết Ngài như Đấng yêu thương từ chính mình.
Tuy nhiên, thư thứ nhất của Gioan không chỉ nói rằng Thiên Chúa là Đấng yêu trước, mà còn hơn thế nữa. Sự đồng hóa với con người Giêsu được trình bày như việc Thiên Chúa sai Con Một của Ngài đến trong thế gian, chính là điều cho thấy rằng Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4,9). Điều này chỉ có thể hiểu được nếu Thiên Chúa vừa là Đấng Yêu vừa là Đấng Được Yêu.
Thật vậy, thuật ngữ “Con Một” đồng thời diễn tả “Đấng duy nhất” cũng như “Đấng được yêu mến”. Vì thế, Thiên Chúa là Đấng yêu chính mình. Nhưng Ngài yêu chính mình theo cách mà tình yêu ấy không thể bị đồng hóa với tính ích kỷ của một cái tôi. Trái lại, chính trong việc yêu, Thiên Chúa phân biệt nơi chính mình: Ngài, tự bản thân, vừa là Đấng Yêu vừa là Đấng Được Yêu, trong một sự phân biệt không thể bị xóa bỏ.Theo ngôn ngữ của Gioan, Ngài là Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần[13].
Linh mục Giuse Phan Cảnh
ĐCV Thánh Phaolo Lê Bảo Tịnh Thanh Hóa
-----------------------
[1] Karl Barth, Dogmatique, I., La doctrine de la Parole de Dieu. Prolégomènes à la Dogmatique, t. 2, 2ème section.
[2] Karl Barth, Dogmatique, op.cit., (Labor et fides)
[3] Karl Barth, Dogmatique, Prolégomènes à la Dogmatique, 2ème volume, Tome 1ier.
[4] Hans Urs von Balthasar, Die Gottesfrage des heutigen Menschen, trad. : Dieu et l’homme d’aujourd’hui, Paris, Desclée 1966.
[5] H.Urs von Balthasar, La Théologique, II., Vérité de Dieu, Namur, 1995.
[6] D. Wiederkehr, Esquisse d’une christologie systématique, Paris, Cerf, 1975, Mysterium Salutis.
[7] D. Wiederkehr, Esquisse d’une christologie systématique, Paris, Cerf, 1975, Mysterium Salutis, t. XI : « Trinité intradivine et eschatologie ».
[8] J. Moltmann, Trinité et Royaume de Dieu, Paris, Cerf, 1984.
[9] J. Moltmann, Le Dieu crucifié, Cerf, Paris, 1974.
[10] Gh. Lafont, Peut-on connaître Dieu en Jésus-Christ ?, Paris, Cerf, 1969.
[11] Karl Rahner, Le Dieu Trinité fondement transcendant de l'Histoire du Salut, Paris, Cerf, 1971, Mysterium Salutis.
[12] W. Kasper, Jésus le Christ, Paris, Cerf, 1980.
[13] Eberhard Jüngel, Gott als Geheimnis der Welt, Tübingen, J.C.B. Mohr, 1977 (Dieu Mystère du monde ).









