THẬP GIÁ VÀ PHỤC SINH

15/04/2024
873


Trước lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết giờ của Ngài đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Ngài vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Ngài yêu thương họ đến cùng” (Ga 13:1). Với những lời này, Tin Mừng Gioan mở đầu trình thuật về Cuộc Khổ Nạn, sự hoàn tất của một cuộc đời dành cho nhân loại trong việc chia sẻ, yêu thương và vâng phục hoàn toàn Chúa Cha đến độ trao ban trọn vẹn bản thân của chính mình. Chúa Giêsu nói trên thập giá “Thế là đã hoàn tất!” (Ga 19:30) như một ấn tín trên của lễ hiến dâng tất cả không giữ lại gì. Một số bản thảo Vulgata thêm từ “mọi sự” để rõ ràng hơn: “Mọi sự đã hoàn tất!” theo nghĩa là kế hoạch cứu độ, được mạc khải trong Kinh Thánh, được thực hiện trong mầu nhiệm Nhập Thể, được hoàn tất trên Thập Giá trong một hành vi yêu thương cao cả.
* * *
Khi chiêm ngưỡng Chúa Giêsu trên Thập Giá, ý nghĩa đầy đủ của những lời Ngài nói trở nên rõ ràng: “Nhưng chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy” (Ga 14:31). Sự kết thúc thương đau của một cuộc sống vâng phục Chúa Cha giữa dân của Ngài là sự mặc khải sáng ngời nhất về tình yêu của Thiên Chúa dành cho Chúa Con và dành cho chúng ta. Và đó là một tình yêu không giữ lại gì, không chờ đợi sự đáp trả nào khác ngoài việc được đón nhận. Thư gửi Titô nói: “Vì chúng ta, Ngài đã tự hiến” (Tt 2:14; Gl 1:4; 1 Tm 2:6). Thánh Phaolô nói rõ: “Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2:20). Và không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu này, hiến mạng sống vì mọi người: “Thế mà Chúa Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5:7-10; 1 Ga 4:10). Như vậy, sứ mệnh cứu độ của Chúa Giêsu được thực hiện để giải thoát “những kẻ thuộc về mình” (Ga 13:1), tức là các môn đệ, nhưng đó là một thực tại bao trùm toàn thể nhân loại và chỉ có sự từ chối của chúng ta mới có thể loại trừ chúng ta. Quả thực, bản chất đích thực của tình yêu là không áp đặt.
Thư gửi tín hữu Rôma làm sáng tỏ chiều sâu hồng ân của Chúa: tình yêu của Ngài được mạc khải trên Thập giá là nền tảng cho niềm hy vọng của chúng ta.
Thế mà Chúa Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Phương chi bây giờ chúng ta đã được nên công chính nhờ máu Chúa  Kitô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Ngài cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Ngài phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Ngài, phương chi bây giờ chúng ta đã được hoà giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy” (Rm 5:8-10).
Sau đó Thánh Tông Đồ quay lại chủ đề này khi suy ngẫm về cuộc phán xét cuối cùng. Chúa Giêsu không đến để kết án hay phán xét chúng ta, nhưng “Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết, hơn nữa, đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta” (Rm 8:34). Và như vậy: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? Như có lời chép: Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh. Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Chúa Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8:35-39).
* * *
Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết, hơn nữa, đã sống lại” (Rm 8:34): Thánh Phaolô liền liên kết cái chết của Chúa với sự phục sinh. Đây không phải là một chi tiết không liên quan, vì trong sự phục sinh, sự sỉ nhục trên thập giá đã được chuộc lại hoàn toàn.
Suy cho cùng, Chúa Giêsu sẽ là gì đối với chúng ta nếu Tin Mừng kết thúc bằng cái chết và bằng việc chôn cất một người bị đóng đinh? Đó sẽ là một tấm gương sáng ngời về tình liên đới được sống một cách can đảm cho đến cùng và kết quả là một sự mất mát đáng buồn, như diễn ra trong diễn biến bình thường của mọi việc. Cuộc đời của Chúa Giêsu sẽ là cuộc đời của một vị tiên tri tương tự như cuộc đời của các vị tiên tri vĩ đại của Israel, cũng tương tự như cuộc đời của những kẻ thương người và những nhân vật vĩ đại trong thời đại chúng ta, những người đã cống hiến hết mình cho người khác với lòng can đảm và sự cống hiến tuyệt đối. Vậy thì lời loan báo về sự Phục sinh bổ sung thêm điều gì cho con người của Chúa Giêsu, và do đó cho rất nhiều người khác, những người, dù có ý thức hay không, đã sống như Ngài? 
Trong sự Phục sinh của Chúa Giêsu, Chúa Cha tuyên bố rằng cuộc đời của Chúa Kitô hoàn toàn hiến mình, vượt lên trên sự dường như thất bại (thập giá), tự điều đó là dấu hiệu chiến thắng: sự sống được trao ban cho người khác cho đến cùng và cái chết mà Chúa Giêsu gặp phải để sống liên đới với anh chị em mình không phải là mục đích của mọi sự, nhưng là hạt giống của một sự sống mới, một sự sống được cứu chuộc, là lời loan báo mang tính tiên tri mà Chúa Kitô đã mang trong xác thịt và trong lịch sử của Ngài. Dụ ngôn về hạt lúa mì giải thích điều đó: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12:24-25). Thực vậy, sự sống là tình yêu lớn lên và phát triển trong việc cho đi chính bản thân mình, và do đó trổ sinh hoa trái trong một sự sống mới.
* * *
Dưới ánh sáng này, có thể hiểu được những lời của Thánh Phaolô: “Mà nếu Chúa Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1 Cr 15:14). Mỗi người chúng ta nghe lời loan báo của Chúa Kitô phục sinh: điều này có ý nghĩa gì trong cuộc sống của chúng ta?
Không có công thức nào có thể diễn tả đầy đủ ý nghĩa của một thực tại cao cả như vậy, một thực tại phải được tìm kiếm, sống, yêu thương trong suốt cuộc đời và là kết quả của cuộc gặp gỡ cá nhân với mầu nhiệm Chúa Kitô.
Mỗi người trong chúng ta đều có những kinh nghiệm của riêng mình về thất bại và cái chết và chúng ta gặp những thất bại và cái chết này vào những thời điểm khác nhau: những kinh nghiệm này được tìm thấy trong nỗi bất an mỗi ngày, trong sự mong manh, cô đơn, khó hiểu, thất bại, bệnh tật, sợ hãi và đau khổ. Đặc biệt ngày nay, chúng ta khám phá ra sự bẽ bàng do sức mạnh của sự dữ gây ra. Mỗi người chúng ta nhận thức sâu sắc về sự dễ bị tổn thương, sự nghèo đói, sự bất lực của chính mình, một sự thật đáng lo ngại khiến chúng ta sợ hãi.
Chúa Kitô phục sinh đến gặp chúng ta trong mỗi hoàn cảnh này: không chỉ - và không phải là quá nhiều - để loan báo cho chúng ta niềm vui về một cuộc sống tương lai trọn vẹn hơn, nhưng để nói với chúng ta rằng hãy can đảm đón nhận những gánh nặng mà cuộc sống mang lại cho chúng ta, luôn mở cõi lòng để yêu thương và liên đới, những việc ấy tự chúng đã có dấu hiệu chiến thắng rồi. Bất chấp mọi thất bại có thể xảy ra, sự sống vốn trỗi dậy trong Chúa Kitô, giờ đây trong cuộc sống hằng ngày, là lời công bố vui tươi rằng Chúa Cha yêu thương chúng ta và cứu độ chúng ta trong Chúa Kitô: Thiên Chúa không hề hối hận vì đã dựng nên chúng ta.
* * *
Vì vậy, dụ ngôn Người Mục Tử của Thánh Gioan cho chúng ta khả năng hiểu và cảm nghiệm được Thiên Chúa tỏ bày tình yêu của Ngài: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử. Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (Ga 10:11-18).
Phêrô Phạm Văn Trung
Chuyển ngữ từ: laciviltacattolica.com