Bộ Phúc âm hoá các Dân tộc

22/04/2026
6
Header

WHĐ (21/4/2026) - Bài viết này muốn giới thiệu đôi nét về sự hình thành và phát triển, cũng như về một số hoạt động và những mối quan tâm của Bộ Phúc âm hóa các Dân tộc, với ước mong củng cố tình hiệp thông giữa các Hội thánh địa phương và Hội thánh toàn cầu.

I. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

1. Bối cảnh văn hóa-lịch sử của sự hình thành và phát triển

2. Bản chất, mục đích và thẩm quyền của Bộ Phúc âm hóa các dân tộc

II. CÁC HOẠT ĐỘNG

1. Các học viện thuộc Bộ Phúc âm hóa các dân tộc

2. Các Hội Truyền giáo

III. NHỮNG ƯU TƯ

 

Trong chuyến đi ad limina 2018, sau khi viếng mộ hai Thánh Tông đồ Phêrô, Phaolô, và yết kiến Đức Thánh cha Phanxicô, địa chỉ quan trọng nhất mà Hội đồng Giám mục Việt Nam phải đến thăm và làm việc là Bộ Phúc âm hóa các dân tộc, quen gọi là Bộ Truyền Giáo. Lý do đơn giản là vì Hội thánh Việt Nam, cũng như các Hội thánh địa phương tại châu Á, đều trực thuộc Bộ Phúc âm hóa các dân tộc. Do đó, bài viết này muốn giới thiệu đôi nét về sự hình thành và phát triển, cũng như về một số hoạt động và những mối quan tâm của Bộ Phúc âm hóa các dân tộc, với ước mong củng cố tình hiệp thông giữa các Hội thánh địa phương và Hội thánh toàn cầu.

I. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

1. Bối cảnh văn hóa-lịch sử của sự hình thành và phát triển

Trung thành với lệnh truyền của Chúa, trong suốt 20 thế kỷ qua, Hội thánh đã không ngừng loan báo Tin mừng cho các dân tộc. Tuy nhiên, chỉ đến đầu thế kỷ XVII Hội thánh mới có một “tổ chức trung tâm” để điều phối hoạt động truyền giáo. Quyết định này được đưa ra trước hết tại Công đồng Trentô (1545-1563) là Công đồng thúc đẩy Hội thánh đi vào thế giới. Tuy nhiên, trong bối cảnh rộng lớn hơn, cũng cần quan tâm đến một yếu tố khác, là sự khám phá “Tân thế giới”, mở ra khung trời bao la cho công cuộc Phúc âm hóa các dân tộc chưa từng nghe nói đến Tin mừng Chúa Giêsu Kitô. Ngoài ra, còn phải kể đến một sự xuất hiện bối cảnh văn hóa và tôn giáo mới, cách riêng tại châu Âu, phát xuất từ phong trào Khai sáng với tầm nhìn mới về nhân học, tạo ra sự rạn nứt giữa quan điểm Kitô giáo và quan điểm thế tục.

Không thể đi quá sâu vào phân tích lịch sử ở đây, chỉ cần ghi nhận là chính Đức Grêgôriô XV (1621-1623) đã thiết lập Thánh bộ Propaganda Fide năm 1622, trao cho Thánh bộ nhiệm vụ truyền bá đức tin: “Missionibus omnibus ad praedicandum et docendum evangelium et catholicam doctrinam”. Điều đặc biệt khẩn cấp là phải đem Tin mừng đến cho các dân tộc. Để phục vụ mục đích này, Thánh Bộ cần có những phương thế để đáp ứng nhu cầu; vì thế, năm 1627, Đấng kế vị Đức Grêgôriô XV là Đức Urbanô VIII (1623-1644) đã thiết lập Trường Truyền Giáo (Propaganda Fide) để đào tạo hàng giáo sĩ phục vụ công cuộc truyền giáo. Thêm vào đó, ngài thành lập Nhà in đa ngữ để in ấn những văn bản thuộc nhiều ngôn ngữ, kể cả các ngôn ngữ vùng Trung Đông và Viễn Đông (Nhà in này liên kết với Nhà in Vatican năm 1902 thời Đức Piô X).

Một ví dụ khác về tầm nhìn xa của các vị Giáo hoàng thời đó là Huấn thị năm 1659 của Thánh bộ gửi cho các Giám quản tông tòa tại Trung Hoa và Đông Dương. Huấn thị này được coi như “Hiến chương” cho việc truyền giáo, trong đó đề cao việc đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ và sự tôn trọng các nền văn hóa và tập quán địa phương: “Đừng ép người dân phải thay đổi nghi lễ và tập quán của họ, trừ khi nó hoàn toàn đi ngược lại đức tin. Còn gì hàm hồ hơn việc đem nước Pháp, Tây Ban Nha, Italia hoặc một quốc gia nào của châu Âu để trồng trên đất Trung Hoa? Đây không phải là điều anh em cần giới thiệu. Điều cần giới thiệu là đức tin, vốn không khước từ các nghi lễ và tập tục của người dân, trừ khi nó xấu xa”. Ngày nay, chúng ta có thể coi Huấn thị này như một khuôn mẫu cho việc hội nhập văn hóa.

2. Bản chất, mục đích và thẩm quyền của Bộ Phúc âm hóa các dân tộc

Từ thế kỷ XVII đến nay, các vị Giáo hoàng vẫn tiếp tục duy trì ý hướng ban đầu về việc thiết lập một trung tâm điều hành và hướng dẫn hoạt động thừa sai trong đó sứ vụ đến với muôn dân (missio ad gentes) là điều quan trọng nhất. Tông hiến Pastor Bonus của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, ban hành ngày 28/6/1988 và có hiệu lực từ ngày 01/3/1989, tiếp tục khẳng định nguyên tắc chung về thẩm quyền của Bộ Phúc âm hóa các dân tộc, theo định hướng của Vaticanô II: “Đối với các xứ truyền giáo cũng như tất cả hoạt động truyền giáo, chỉ một cơ quan Tòa Thánh có thẩm quyền, là Bộ Phúc âm hóa các dân tộc, đảm trách việc điều hành và phối hợp công cuộc truyền giáo cũng như sự hợp tác truyền giáo trên toàn thế giới, tuy nhiên thẩm quyền của các Hội thánh Đông phương vẫn được bảo toàn” (Ad Gentes, số 29).

Một trong những tiêu chuẩn về thẩm quyền là vùng lãnh thổ. Nói đến các xứ truyền giáo là bao hàm toàn bộ châu Phi, châu Á, châu Đại dương (trừ nước Úc), một vài Hội thánh tại Bắc Canada và Mỹ La tinh, cũng như một vài vùng của châu Âu, trong đó có Bosnia-Herzegovina, Montenegro, Albania, Macedonia, Gibraltar… Vào cuối năm 2002, số các đơn vị thuộc quyền của Bộ Phúc âm hóa các dân tộc là 1086, chiếm gần 36% trên tổng số của Hội thánh toàn cầu; trong đó 478 tại châu Phi, 85 tại châu Mỹ, 453 tại châu Á, 14 tại châu Âu, 56 tại châu Đại dương.

Về mặt tổ chức, hoạt động của Bộ Phúc âm hóa các dân tộc dựa vào hai tổ chức chính:

- Hội đồng thường trực: gồm một nhóm các hồng y và giám mục được Đức Giáo hoàng bổ nhiệm. Dưới sự chủ tọa của vị Tổng trưởng, các thành viên họp một hoặc hai lần mỗi tháng. Hội đồng quan tâm đặc biệt đến các vấn đề thiết lập các giáo phận mới, bổ nhiệm các giám mục hoặc những người chịu trách nhiệm. Các hồng y và giám mục thành viên khác có thể dự họp nếu các ngài có mặt ở Rôma.

- Đại hội: Ngoài số thành viên trong Hội đồng thường trực, Đại hội quy tụ thêm 24 thành viên (16 Giám mục trong đó 12 vị đến từ các xứ truyền giáo, 4 Bề trên tổng quyền, 4 Giám đốc quốc gia trong các Hội Giáo hoàng truyền giáo). Thông thường Đại hội họp 3 hay 4 năm một lần, bàn thảo những vấn đề quan trọng và đường hướng của hoạt động truyền giáo.

Để chu toàn nhiệm vụ, ngoài các nhân sự thường xuyên làm việc, Bộ Phúc âm hóa các dân tộc còn có các Cố vấn và Ủy ban nghiên cứu. Ngoài ra, để thúc đẩy sự hợp tác giữa Bộ và các dòng tu, còn có một Hội đồng gồm các nam nữ tu sĩ là Bề trên tổng quyền các hội dòng.

II. CÁC HOẠT ĐỘNG

1. Các học viện thuộc Bộ Phúc âm hóa các dân tộc

Tại Rôma, các Học viện giáo hoàng thuộc Bộ Phúc âm hóa các dân tộc biểu lộ mối quan tâm của Bộ trong việc đào tạo hàng giáo sĩ có khả năng đáp ứng nhu cầu truyền giáo. Với Tông sắc Inscrutabile Divinae Providentiae, ngày 06 tháng 01 năm 1622, Thánh Bộ Propaganda Fide lúc bấy giờ thành lập “Học viện Propaganda Fide” nhằm đào tạo các nhà truyền giáo ad gentes. Ngày 01 tháng 8 năm 1627, Đức Urbanô VIII ban hành Tông sắc Immortalis Dei Filius, đề ra những đường hướng nền tảng cũng như mục đích của Học viện. Học viện trở thành “Học viện giáo hoàng” với danh hiệu Urbanô, đặt dưới sự bảo trợ của hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, với mục đích “đón nhận và đào tạo những giáo sĩ đạo đức và hiểu biết để loan báo và bảo vệ đức tin Công giáo trên khắp thế giới trước những người ngoài Kitô giáo và những Kitô hữu đã ly khai khỏi sự hiệp nhất của Hội thánh, cũng như sẵn sàng hi sinh mạng sống nếu cần thiết”. Học viện được trang bị một thư viện lớn, nơi đó thu thập nhiều thủ bản và sách của nhiều dân tộc và nền văn hóa.

Vào hậu bán thế kỷ XX, do sự phát triển truyền giáo, Bộ Phúc âm hóa các dân tộc đã lập thêm hai Học viện khác để đào tạo các linh mục đến từ các xứ truyền giáo: Trường Thánh Phêrô (1946) và Trường Thánh Phaolô (cuối thập niên 1960). Ngoài ra phải kể đến Chủng viện Urbanô dành cho chủng sinh, thành lập năm 1622, Nhà Phaolô VI dành cho việc đào tạo nữ tu, Trường Mater Ecclesiae tại Castel Gandolfo dành cho việc đào tạo Giáo lý viên. Châu Á và châu Phi là hai châu lục có nhiều sinh viên theo học tại các trường này (từ 50 quốc gia), ngoài ra cũng có các sinh viên đến từ châu Đại dương, Trung Đông, khoảng 10 quốc gia tại châu Mỹ La tinh, cũng như một vài nước thuộc châu Âu.

Theo nhận định của Đức hồng y Sarah, từng là Tổng thư ký Bộ Phúc âm hóa các dân tộc, “Truyền thống lâu đời về nền đào tạo toàn diện (nhân bản, triết học, thiêng liêng, thần học, giáo luật) vẫn tiếp tục mạnh mẽ. Cần phải ý thức hơn về “thời đại mới” đang lan tràn khắp thế giới, do đó những nhu cầu mới trong việc đào tạo linh mục. Điều mà tôi cho là quan trọng là ngày nay rõ ràng cần có nền đào tạo thần học “công giáo”, nghĩa là có tính phổ quát về không gian và thời gian: một nền đào tạo cắm rễ vững chắc trong Truyền thống, nhưng không ngừng mở ra với việc hội nhập văn hóa và với các tôn giáo khác, với những biểu hiện tri thức và xã hội của các dân tộc trên thế giới”.

2. Các Hội Truyền giáo

Hội Giáo hoàng Truyền bá đức tin (PSPF): Hội được khai sinh từ một thiếu nữ trẻ tuổi ở Lyon, cô Pauline Marie Jaricot. Pauline được sinh ra trong một gia đình giàu có, ngày 22/7/1799, với tuổi thơ hạnh phúc, sống trong nhung lụa. Ở tuổi 17, một bài giảng của cha xứ đã đánh động tâm hồn cô, khiến cô thấy được tính vô thường của cuộc đời và sự chóng qua của của cải trần gian. Đêm Giáng Sinh 1816, Pauline đoan hứa sống khiết tịnh, tôn thờ Thánh Thể để đền bù những xúc phạm đến Thánh Tâm Chúa Giêsu. Một nhóm nhỏ các thiếu nữ cùng chí hướng được quy tụ. Năm 1818, được gợi hứng từ cuốn sách của Hội Thừa Sai Paris (MEP), nhóm đưa ra sáng kiến góp phần vào việc truyền giáo bằng lời cầu nguyện và bằng việc đóng góp mỗi tuần một xu cho việc loan báo Tin mừng. Pauline khởi sự một nhóm 10 người, mỗi người lại tìm thêm 10 người khác, tất cả cùng cầu nguyện cho việc truyền giáo và đóng góp 1 xu/tuần cho mục đích này. Dự án này lan ra nhanh chóng: vào ngày 20/10/1820 đã có hơn 500 thành viên tham gia. Ngày 03/5/1822, Hội Truyền bá đức tin chính thức được thành lập. Đến năm 1826, Hội lan rộng đến nhiều nước Âu châu và có mối liên hệ mật thiết với Thánh Bộ Propaganda Fide. Ngày 03/5/1922, với Tự sắc Romanorum Pontificum, Đức Piô XI chính thức nhìn nhận Hội Giáo hoàng Truyền bá đức tin. Một trong những công lao của Hội là đã xin và được chấp thuận việc thiết lập Ngày Thế giới Truyền giáo vào Chúa nhật gần cuối tháng 10 hằng năm.

Hội thánh Nhi Truyền giáo (PSHC): Ngày 03/12/1880, trong thông điệp Sancta Dei Civitas, Đức Lêô XIII khuyến khích việc phát triển Hội thánh Nhi Truyền giáo, và ngày 03/5/1922, Đức Piô XI chính thức nhìn nhận đây là Hội “Giáo hoàng” (pontifical). Nhìn lại nguồn gốc, không thể không nhắc đến Đức cha Charles August Marie de Forbin Janson, sinh ngày 03/11/1785. Ngài vào chủng viện Xuân Bích và ước mong đi truyền giáo. Nhưng Chúa quan phòng lại sắp xếp để ngài trở thành giám đốc chủng viện và Tổng đại diện ở Chambery. Ngài thực hiện ước mơ truyền giáo bằng việc đi giảng dạy ở nhiều nơi, kể cả Trung Đông, Ai Cập, Palestine, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ. Được bổ nhiệm làm giám mục Nancy năm 1824, vì nhiệt tâm với Hội thánh, ngài phải đối đầu với chính quyền lúc đó và cuối cùng, bị lưu đầy. Ngài muốn đi truyền giáo tại Trung Hoa nhưng không thể thực hiện, vì thế ngài đi giảng tại Canada và Hoa Kỳ, cuối cùng qua đời tại Marseilles năm 1844. Đức cha Forbin Janson muốn thành lập một phong trào thiếu nhi công giáo với mục đích giúp đỡ các thiếu nhi ngoại giáo, để các em biết Chúa và được cứu rỗi, qua việc chịu Phép Rửa Tội và việc giáo dục theo tinh thần Kitô giáo. Đây không chỉ là hoạt động xã hội nhưng là truyền giáo. Phong trào này đã được đón nhận và phát triển mạnh tại châu Âu và Bắc Mỹ, và được các vị Giáo hoàng chính thức nhìn nhận.

Hội Giáo hoàng Truyền giáo Thánh Phêrô Tông đồ (PSPA): Hội này được phát sinh tại Pháp theo gợi ý của Đức cha Cousin thuộc Hội Thừa Sai Paris (MEP), Giám quản tông tòa Nagasaki. Hội này quan tâm đặc biệt đến một nhu cầu cần thiết cho việc truyền giáo là việc đào tạo hàng giáo sĩ bản địa, vì thế quan tâm đến việc xây dựng và duy trì các chủng viện ở các xứ truyền giáo. Để thực hiện ước nguyện này, Đức cha Cousin được sự giúp đỡ đặc biệt của bà Jeanne Bigard. Bà là một phụ nữ giàu có, lại được thừa hưởng từ người mẹ lòng đạo sâu xa nên bà tha thiết với việc truyền giáo và quan tâm đến các vị thừa sai. Sau khi giúp đỡ xây dựng nhà thờ Thánh Phanxicô Xavier ở Kyoto, bà đã bán hết tài sản để giúp cho việc truyền giáo. Trước nhu cầu ngày càng lớn, bà quyết định thành lập một hội, sau này trở thành Hội Truyền Giáo Thánh Phêrô. Hội được chính thức thành lập năm 1889 tại Caen, Pháp. Năm 1901, trụ sở chính được chuyển về Paris, rồi Fribourg (Thụy Sĩ), đến năm 1920 lại chuyển về Rôma. Ngày 03/5/1922, Đức Piô XI nhìn nhận Hội Truyền Giáo Thánh Phêrô là Hội “Giáo hoàng” (pontifical).

Hiệp hội Giáo hoàng Truyền giáo (PMU): Được thành lập do Chân Phước linh mục Paolo Manna và được Đức Bênêđictô XV chính thức nhìn nhận ngày 31/10/1916. Cha Paolo Manna sinh tại Avellino (Italia) ngày 16/01/1872. Sau khi gia nhập Hội Thừa sai hải ngoại (PIME), ngài được sai đến Myanmar (khi đó gọi là Miến Điện, Burma). Vì lý do sức khỏe, sau 12 năm ở Myanmar, ngài phải trở về quê nhà để trị bệnh. Trong hoàn cảnh đó, ngài khám phá ý định Thiên Chúa dành cho ngài, là khơi dậy tinh thần truyền giáo qua sách vở và các ấn bản khác. Ước mơ của ngài là thành lập Hội Giáo sĩ truyền giáo, và ước mơ đó đã thành hiện thực dưới thời Đức Bênêđictô XV. Đại hội quốc tế đầu tiên được tổ chức năm 1922, tuyên bố sự cần thiết phải dạy môn Truyền Giáo học trong các chủng viện, vai trò không thể thay thế của các linh mục trong việc loan báo Tin mừng và khơi dậy ý thức truyền giáo nơi Dân Chúa. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tóm tắt tinh thần của Hội như sau: “Hiệp hội truyền giáo có mục đích trước mắt và cụ thể là thúc đẩy ý thức và đào tạo truyền giáo trong hàng linh mục, tu sĩ nam nữ, để đến lượt họ, họ khơi dậy ý thức và cung cấp việc đào tạo trong các cộng đoàn Kitô hữu”.

III. NHỮNG ƯU TƯ

Trong một bài nói chuyện với các giám mục, Đức hồng y Sepe, Cựu Tổng trưởng Bộ Phúc âm hóa các dân tộc, cho biết ngày nay một trong những mối ưu tư lớn của Bộ Phúc âm hóa các dân tộc là khơi dậy tinh thần truyền giáo. Trong thông điệp Redemptoris Missio, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II viết: “Vào thời điểm thiên niên kỷ II sắp chấm dứt, một cái nhìn tổng thể về nhân loại cho thấy sứ vụ vẫn chỉ ở bước khởi đầu và chúng ta phải hết lòng lo cho công việc này” (số 1). Do đó cần phải khơi dậy sự can đảm và nhiệt tâm truyền giáo. Về mặt thần học, ngày nay chúng ta nhìn nhận rằng truyền giáo là thành phần thuộc bản chất của Hội thánh. Điều này có nghĩa là bao lâu còn Hội thánh, bấy lâu còn phải truyền giáo. Nhưng điều đó cũng có nghĩa là mỗi thành viên trong Dân Chúa phải thấy sứ vụ loan báo Đức Giêsu Kitô là thành phần nền tảng của đời sống Kitô hữu. Nếu điều này đúng cho mọi tín hữu thì lại càng đúng cho các giám mục vì các ngài là những người kế vị các thánh Tông đồ, những vị đã nhận lệnh truyền trực tiếp từ Đức Kitô là hãy đi rao giảng Tin mừng cho mọi thụ tạo: “Các con hãy đi khắp thế gian, loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu rỗi, còn ai không tin sẽ bị luận phạt” (Mc 16,15). Do đó, Giám mục là nhà truyền giáo và mọi hoạt động mục vụ trong giáo phận phải hướng đến mục đích này. Tinh thần truyền giáo phải trở thành linh hồn của hoạt động mục vụ, và không thể có hoạt động mục vụ đúng nghĩa nếu thiếu tinh thần này.

Một thách đố khác được Bộ Phúc âm hóa các dân tộc quan tâm là việc đào tạo trong các xứ truyền giáo. Ở nhiều nơi trong các xứ truyền giáo, ơn gọi linh mục và tu sĩ nở rộ, nhưng điều quan trọng là phải làm sao chủng viện có đủ các nhà đào tạo được chuẩn bị kỹ, nhất là về mặt thiêng liêng, để có thể đảm nhận nhiệm vụ cao cả này, vì chính họ phải trở thành mẫu gương cho các chủng sinh. Vì thế các giám mục phải đặc biệt lưu tâm đến việc chọn các nhà đào tạo, chương trình đào tạo, cùng với sự phân định động lực nơi những người trẻ xin vào chủng viện. Tương lai của mỗi Hội thánh địa phương, cũng là tương lai của Hội thánh toàn cầu, tùy thuộc vào việc đào tạo các linh mục tương lai. Hiểu như thế, việc đào tạo linh mục còn phải được tiếp nối bằng những đợt thường huấn, không chỉ về mặt tri thức nhưng còn để phát huy tình huynh đệ linh mục cũng như mối hiệp thông với giám mục giáo phận khi thi hành sứ vụ.

Cũng thế, đào tạo giáo dân và giáo lý viên là yêu cầu cần thiết trong đời sống giáo phận. Loan báo Tin mừng là nhiệm vụ của mọi Kitô hữu, thế nhưng người giáo dân không thể chu toàn nhiệm vụ đó nếu họ không được chuẩn bị và đào tạo, nhằm tìm kiếm và xây dựng Vương quốc Thiên Chúa giữa những thực tại trần thế. Với giáo lý viên cũng thế, phần đông các giáo lý viên là những tín hữu quảng đại, đầy thiện chí, nhưng họ cần được đào tạo để có thể đảm nhận nhiệm vụ cách hữu ích nhất. Do đó, hi vọng là sẽ có nhiều trung tâm giáo lý được thiết lập để cung cấp chương trình đào tạo phong phú về giáo thuyết, phương pháp, cũng như về nhân bản, thiêng liêng và mục vụ.

Một lãnh vực quan trọng và tế nhị khác cần quan tâm là việc hội nhập văn hóa và đối thoại liên tôn, cách riêng tại châu Phi và châu Á. Đây là một đề tài rất lớn, đòi hỏi nghiên cứu sâu rộng, không những về suy tư lý thuyết mà cả thực hành mục vụ. Trong bối cảnh châu Á, thiết nghĩ nên nhắc lại đề nghị của các nghị phụ trong Thượng Hội đồng Giám mục Năm Thánh 2000 về Hội thánh tại châu Á:

“Việc đâm rễ Tin mừng vào trong các nền văn hóa khác nhau tại châu Á đòi hỏi nhiều suy tư và phân định, nhất là trong những xã hội mà ở đó văn hóa thế tục và tôn giáo truyền thống hòa trộn mật thiết với nhau. Cần tìm ra những phương thế và cách tiếp cận thích hợp, sáng tạo và năng động nhằm thúc đẩy việc hội nhập văn hóa trong các lãnh vực thần học, phụng vụ, đào tạo linh mục và tu sĩ, giáo lý, linh đạo, lòng đạo bình dân, vv. Cần có các chuyên viên cả về thần học và khoa học nhân văn để thực hiện việc này. Thượng Hội Đồng rất quan tâm đến hội nhập văn hóa trong việc loan báo đức tin và khuyến khích tiếp tục các nghiên cứu thần học nơi các nhà thần học cũng như nơi mỗi Hội thánh địa phương. Việc làm thần học như thế cần được tiến hành cách can đảm, trung thành với Kinh Thánh và Truyền thống của Hội thánh, hiệp thông với Huấn Quyền và hiểu biết rõ các thực tế mục vụ.

Phụng vụ là khí cụ chính yếu trong việc Phúc âm hóa. Trong các Giáo hội Đông phương, phụng vụ đã duy trì đức tin và được hội nhập văn hóa cách thành công. Phụng vụ phải chạm đến con tim và có ý nghĩa đối với người dân của Hội thánh địa phương. Với nhiều người Công giáo Á châu, phụng vụ thường bị coi là xa lạ và không chạm đến tâm hồn họ. Điều này cho thấy cần phải hội nhập văn hóa trong phụng vụ để phụng vụ có ý nghĩa hơn và nuôi dưỡng người dân trong bối cảnh văn hóa riêng của họ. Do đó, các Hội thánh địa phương cần có thẩm quyền và tự do trong việc hội nhập văn hóa để thích nghi phụng vụ với văn hóa địa phương, trong khi vẫn nhìn nhận nhu cầu đối thoại và hiệp thông với Tòa Thánh, là nguyên lý hiệp nhất trong Hội thánh. Thượng Hội Đồng đề nghị Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích cho các Hội đồng Giám mục thẩm quyền chấp thuận các bản dịch phụng vụ sang tiếng địa phương, và sẽ thông báo cho Bộ. Phải nhìn nhận rằng việc hội nhập văn hóa trong phụng vụ, dù cần thiết, nhưng là việc tế nhị và không thể, không nên thỏa hiệp đối với những điều thiết yếu của phụng vụ và của đức tin Kitô giáo”.

Tác giả: Thiên Triệu

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVNSố 105 (Tháng 3 & 4 năm 2018)

------------------------------

Tài liệu tham khảo

- Congregation for the Evangelization of Peoples, Life and Minsitry of the Bishop, Urbaniana University Press, 2003.

- Peter C. Phan, The Asian Synod, Orbis Book, 2002.

Nguồn: hdgmvietnam.com