Bí tích Hòa Giải phục hồi tước vị làm con Thiên Chúa

09/03/2026
127


BÍ TÍCH HÒA GIẢI PHỤC HỒI TƯỚC VỊ LÀM CON THIÊN CHÚA

Mùa chay là thời gian đặc biệt để chúng ta sống chậm lại, sám hối trở về với Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, và Bí tích Hòa giải là phương thế để phục hồi tước vị làm con Thiên Chúa của mỗi chúng ta.

Toàn bộ Kinh Thánh cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về tương quan giữa Thiên Chúa và con người, thái độ của con người đối với Thiên Chúa, những hành động can thiệp của Thiên Chúa.

Con người ngay từ thuở tạo thiên lập địa đã chối từ Thiên Chúa, đã không muốn nhận Thiên Chúa làm Chúa của đời mình, không muốn Người là Đấng hướng dẫn và che chở cuộc đời mình. Con người đã quay lưng lại với Thiên Chúa, đã chối từ Thiên Chúa và hành vi hái trái cấm trong câu chuyện sáng thế là một hình ảnh nói lên sự đổ vỡ mỗi tương quan giữa Thiên Chúa và con người.

Thiên Chúa là Ánh Sáng. Con người chối từ Ánh Sáng là con người đi vào tình trạng thiếu vắng ánh sáng, đó là bóng tối. Tội là một tình trạng trống vắng Thiên Chúa. Con người tách khỏi Thiên Chúa, lập tức con người ở trong tình trạng “thiếu vắng vinh quang Thiên Chúa” (Rm 3,23). Bóng tối, sự tội, đau khổ, sự chết. Cuộc sống con người trở nên bế tắc, vô nghĩa, lầm than và bị sự dữ thống trị. Thế nhưng Thiên Chúa không bỏ con người. Thiên Chúa có một chương trình cứu độ con người. Thiên Chúa muốn đưa con người trở về tình trạng thánh thiện nguyên thủy, và hơn thế nữa là cho con người trở nên con của Thiên Chúa.

Chương trình cứu độ ấy được chuẩn bị qua từng thời đại, qua các ngôn sứ, nơi dân tộc Do-thái. Và khi đến thời viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Một của Người xuống thế làm người để hoàn tất việc cứu độ con người.

Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là Người thật. Chúa Giêsu đã mang trọn thân phận con người và đi cho đến tận cùng thân phận ấy, đó là mang lấy cái chết và là cái chết nhục nhã trên thập giá. Trong thân phận con người, Chúa Giêsu đã chu toàn thánh ý Chúa Cha cách vẹn toàn. Người chuộc lại tất cả những gì mà Ông Bà Nguyên Tổ xưa đã phá hủy. Do một người bất tuân mà nhân loại phải lầm than và phải chết, thì nay do một người tuân phục vẹn toàn mà nhân loại được hạnh phúc và sống đời đời.

Chúa Giêsu đã ôm trọn thân phận con người và hiến dâng trọn vẹn cho Thiên Chúa làm của lễ vẹn toàn vô tì tích của lòng mến, sự tuân phục, niềm trông cậy và lòng tin mạnh mẽ. Đồng thời, trong bản tính Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã biểu lộ trọn vẹn tình thương của Thiên Chúa ban cho con người, một tình yêu hiến dâng vì bạn hữu.

Nơi bản tính Thiên Chúa, Chúa Giêsu muốn cho nhân loại thấy Thiên Chúa yêu thương con người như thế nào: yêu con người cho đến nỗi mang lấy tội lỗi và thân phận đau khổ của con người, gánh lấy tất cả những đau đớn và sự tàn ác của cả nhân loại, để rồi biến đổi tất cả thành hạnh phúc, bình an và sự sống đời đời qua biến cố Phục Sinh. Biến cố Thương Khó là đỉnh cao của mầu nhiệm Nhập Thể và biến cố Phục Sinh là đỉnh cao của cuộc Tạo Thành Mới, đỉnh cao của mầu nhiệm: Thiên Chúa hóa con người, nghĩa là con người trở thành một thành viên trong Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì nhờ Chúa Giêsu có hai bản tính mà từ đây trong Thiên Chúa Ba Ngôi có sự hiện diện của con người.

Trong Thiên Chúa có con người, trong con người có Thiên Chúa. Nói như thánh Giáo Phụ I-rê-nê: “Thiên Chúa làm người để con người được làm con Thiên Chúa”. Xưa kia, ước mơ của Ông Bà Nguyên Tổ là muốn được bằng Thiên Chúa, thì nay, nơi Chúa Giêsu trong mầu nhiệm Chết và Phục Sinh, Thiên Chúa đã cho con người được bằng Thiên Chúa theo nghĩa là được trở nên con cái Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa làm người.

Nhìn tổng thể là như thế. Nhưng cái tổng thể ấy lại được diễn tiến theo tuần tự thời gian và qua những biến cố, sự kiện cụ thể. Và trong từng sự kiện cụ thể này, luôn luôn, tình thương của Thiên Chúa được diễn tả cách rõ nét dưới những hình thức khác nhau: Sự ban ơn, tha thứ, sự nâng đỡ.

Cựu Ước

Nếu bí tích Hoà Giải là bí tích mà nơi đó Thiên Chúa hiện diện “trường kỳ” để tỏ lòng xót thương tha thứ cho tội nhân thì Cựu Ước đã cung cấp cho chúng ta “tính kiên nhẫn và trường kỳ” của lòng xót thương vô biên của Thiên Chúa đối với người tội lỗi. Sự vô biên thể hiện nơi tính kiên nhẫn và không giới hạn. Thật thế, điều này được nhận ra trong suốt chiều dài của Cựu Ước, khi tương quan giữa dân Ít-ra-en với Thiên Chúa dường như luôn diễn ra theo một chu kỳ đều đặn mà mỗi chu kỳ lại như chứa đựng những thái độ khác nhau: Dân của Chúa sống trong tình thương yêu của Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Người. Dân của Chúa bị lôi cuốn bởi các thần khác, hay bởi tiền tài danh vọng, dẫn đến sự phản bội lại Thiên Chúa, sống trong tội lỗi, thác loạn. Thiên Chúa nổi giận, nổi cơn thịnh nộ. Ngài phạt dân đi lưu đày nơi ngoại bang hay khiến họ bị những thế lực ngoại bang xâm chiếm. Dân của Chúa hối lỗi, quay trở lại với Thiên Chúa. Họ ăn năn sám hối, mặc áo nhặm, xức tro trên đầu… tỏ dấu thống hối. Thiên Chúa yêu thương tha thứ, cho họ được trở lại sống trong tương quan nghĩa thiết với Người.

            Con người thường dễ thay lòng đổi dạ. Kinh nghiệm thường thấy là khi người ta gặp khó khăn hiểm nguy, người ta mới “chịu” ở yên hay “chịu” quay trở về với Thiên Chúa, là Đấng mà người ta nhận ra là chỗ dựa vững chắc cho mình. Nhưng khi họ được ở trong tình trạng yên ổn, an toàn một thời gian thì ý tưởng muốn tách riêng, muốn độc lập xuất hiện. Người ta muốn thoát ra khỏi sự lệ thuộc để theo ý thích của mình. Người ta muốn chọn lựa theo ý riêng của mình. Một kinh nghiệm thiết thân từ thực tế là: những khi chọn như thế, người ta hay bị chọn lầm.

            Con người luôn luôn yếu đuối. Nói đúng hơn, yếu đuối nằm trong bản chất của con người. Chính sự yếu đuối đó, vốn có mặt thường xuyên, đã làm xấu đi tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Có thể nói tương quan giữa con người với Thiên Chúa có xấu đi là do nơi con người. Do sự bất nhất, yếu hèn, dễ bị những giá trị khác chi phối, con người thường phản bội lại lời kết ước giữa mình với Thiên Chúa. Bất hạnh ở chỗ là người ta không ý thức được vị trí thật của mình, không biết rõ, hay không muốn biết thực chất con người mình là gì để trước mỗi chọn lựa biết cậy dựa vào Thiên Chúa.

            Thiên Chúa thì vẫn cứ luôn giàu lòng xót thương và sẵn sàng để tha thứ. Tình thương thể hiện nơi sự sẵn sàng để tha thứ. Đọc lại những trang sách Cựu Ước, nhiều lúc chúng ta không khỏi e ngại cho dân tộc Ít-ra-en, cũng là cho con người nói chung, vì sự bất nhất và thiếu thủy chung của họ trong tình yêu. Nhưng cũng qua sự thiếu thủy chung đó của dân, chúng ta mới thấy tình thương của Thiên Chúa quả là vĩ đại: Ngài vẫn cứ “theo” “ để đưa người yêu hay phản bội ấy, trở về. Ngài vẫn luôn nhẫn nại chịu đựng để chờ đợi nó trở về. Việc dân của Thiên Chúa chối bỏ Người sau khi đã lập Giao Ước, đáng lý ra khiến Thiên Chúa hủy diệt toàn dân, thì lại trở nên cơ hội để Thiên Chúa tự xưng là “Thiên Chúa dịu dàng và hay thương xót, chậm tức giận, giàu ân sủng và trung tín … dung thứ lầm lẫn, sai phạm và tội lỗi…” ( Xh 34,6-9).

Thiên Chúa thịnh nộ, thì phải hiểu là Người biểu lộ sự quan tâm thực sự đến thụ tạo Ngài dựng nên, đặc biệt là đối với thụ tạo quí giá nhất là con người. Thiên Chúa có giận vì Người có yêu (Am 5,6). Thiên Chúa sửa dạy chúng ta trong thời gian để yêu thương trong vĩnh cửu.

Với lối nhìn đó, đặt trong bối cảnh của bí tích Hòa Giải, để chúng ta thấy tình thương của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta và xác định việc đền tội đúng nghĩa phải là một thái độ thành tâm thống hối thực sự, là cất đi những chướng ngại ngăn cản không cho Thiên Chúa trực tiếp bày tỏ tình thương của Người. 

Tân Ước

Trong Tân ước, có nhiều đoạn liên hệ đến Bí tích Hòa giải, nhưng nổi bật nhất là Lc 15. Thiên Chúa yêu con người, luôn coi mỗi người chúng ta có 1 vị trí rất riêng, duy nhất trong trái tim Ngài, chứ không phải 1 trong đám đông. Đọc Lc 15, 11, ta thấy người con ở đây không chỉ được phần của cải, cái có; mà anh ta xin cái “ousia”, cái là (bản thể). Điều đó có nghĩa là anh ta được tách khỏi cha. Con người tách khỏi Thiên Chúa thì không có sự sống, không có cái “là” mà chỉ còn cái “có”. Đấy là tội!

Tin Mừng Cũng nhiều lần cho chúng ta thấy tình thương của Thiên Chúa dành cho con người. Đó là lòng thương yêu tha thứ được minh họa qua hình ảnh người cha nhân từ luôn sẵn lòng chờ đón người con bất hiếu đi hoang quay trở về ( Lc 15,11-31). Đó là hình ảnh của vị vua độ lượng với người đầy tớ của mình. Vị vua vì lòng cảm thương đã sẵn sàng tha nợ, món nợ khổng lồ, cho người đầy tớ ( Mt 18,23).

Chính Chúa Giê-su cũng nhiều lần biểu lộ lòng thương xót đó trước những hối nhân, những người đến với Ngài để xin ơn tha thứ: người phụ nữ ngoại tình, bị người dân kết án phải bị ném đá, đã nhận được lời tha thứ đại lượng: “…Tôi không lên án chị đâu! Thôi, chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11); với người trộm lành, trong giây phút thống hối cuối đời đã thốt lên lời kêu xin: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”, thì anh ta đã nhận được lời hứa: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng” ( Lc 23,43). Cả một đời tội lỗi của anh đã được lòng thương xót của Thiên Chúa tha thứ hoàn toàn.

            Có thể nói, Chúa Giêsu kêu gọi hoán cải tất cả những ai cần trở lại (Lc, 5,32) và Người thúc đẩy họ trở lại bằng cách mạc khải cho biết Thiên Chúa là Người Cha chỉ vui khi tha thứ và Ngài không muốn ai bị hư mất (Mt 18,12tt). Hơn thế, chính Chúa Giê-su đã thực thi ơn tha thứ này và minh chứng qua những việc Người làm bằng cách sử dụng quyền năng dành riêng cho Thiên Chúa (Mc 2,5-11; Ga 5,21).

Khi nói đến bí tích Hòa Giải, chúng ta thường nhấn mạnh nhiều đến khía cạnh tha tội, nhưng thật sự mà nói, khía cạnh tha tội chỉ là một phần của bí tích Hòa Giải. Điểm chính yếu hơn là phục hồi tước vị làm con Thiên Chúa.

            Quả thật, bí tích Hoà Giải là bí tích cho con người thấy được tất cả tình thương bao la ấy. Con người như người con hoang đàng khước từ cha của mình, bỏ nhà cha, tách khỏi cuộc sống của cha để bước vào con đường riêng, sống lối sống riêng của mình và thích làm chủ đời mình chứ không muốn dựa vào cha.  Hình ảnh người con hoang đàng xin cha trao cho mình phần gia sản của riêng anh giống với hình ảnh của hai Ông Bà Nguyên Tổ giơ tay hái trái cấm. Và từ lúc lãnh phần gia sản của riêng mình để sống theo ý mình thì người con hoang đàng đi vào con đường của bóng tối. Hậu quả của bóng tối là đau khổ và sự chết. Bí tích Hoà giải cho con người đụng chạm cụ thể đến tình trạng tội lỗi của mình, bí tích Hoà giải giúp cho con người biết mình là ai, mình đang làm gì và mình đang sống trong chỗ nào.

Thế nhưng không chỉ dừng lại ở đó, sau khi đã biết mình là ai, Bí tích Hoà giải đưa con người đến gặp gỡ Thiên Chúa để biết Thiên Chúa là ai.  Bí tích Hoà Giải sẽ cho con người cảm nghiệm được tình thương tha thứ của Thiên Chúa. Con người sẽ cảm nghiệm được Thiên Chúa là Đấng tha thứ và hơn thế nữa, Thiên Chúa là một Người Cha.

Trong dụ ngôn Người Cha nhân hậu, chúng ta bắt gặp dung mạo của một Người Cha đợi chờ con mình về, không phải để nói lời tha thứ, vì Người Cha có giận con mình đâu mà tha thứ. Người Cha đợi chờ đứa con trở về là để phục hồi cho người con đó tước vị làm con mà người con đó đã đánh mất khi bỏ nhà ra đi. Cũng vậy, nơi bí tích Hoà Giải, Thiên Chúa đợi chờ con người trở về không phải chỉ để tha tội, vì Thiên Chúa từ đời đời đã tha thứ cho con người rồi. Thiên Chúa đã tha thứ cho con người ngay khi Ông Bà Nguyên Tổ phạm tội. Nếu Thiên Chúa không tha thứ thì đã không có chương trình cứu độ và Chúa Giêsu đã không xuống thế làm Người cứu độ con người. Thiên Chúa đợi chờ con người trở về là để phục hồi tước vị làm con Thiên Chúa cho con người. Vì thế, nơi bí tích Hoà Giải, con người được trở thành con Thiên Chúa trong Chúa Giêsu và nhờ Chúa Giêsu. Thiên Chúa mong đợi con người trở về để “mặc” cho con người chiếc áo cứu độ, “đeo” cho con người chiếc nhẫn làm con Thiên Chúa và “xỏ dép” cho con người để phục hồi địa vị cao sang mà Thiên Chúa để dành sẵn cho con người từ thuở đời đời. Tắt một lời, bí tích Hoà Giải là bí tích phục hồi tước vị làm con Thiên Chúa của con người.

            Chúng ta là những người được Thiên Chúa yêu thương ( Rm 1,7). Dù mọi người đều đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ lại được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Ki-tô Giêsu. Thiên Chúa đã đặt Người làm nơi xá tội, nhờ Máu của Người, cho những ai có lòng tin ( Rm 3,25). Sự vững chắc ấy thể hiện nơi ƠN CỨU ĐỘ của Thiên Chúa dành cho con người qua Đức Giêsu Kitô. Chính những khai triển thật sâu sắc và độc đáo của thánh Phaolo đã mở ra cho chúng ta một cái nhìn rõ nét về tình thương của Thiên Chúa, thể hiện qua chương trình cứu độ, chương trình hòa giải của Người, vốn là một trong những yếu tố chính yếu của bí tích Hòa giải.

 

                                                                                       Linh mục Giuse Phan Cảnh

                                                                    ĐCV Thánh Phaolo Lê Bảo Tịnh Thanh Hóa