Làm Thế Nào Biết Được Đức Mẹ Ra Đời Vào Ngày 8 Tháng 9?

08/09/2017
202
Ngày 8 tháng 9, phụng vụ sẽ mừng lễ Sinh nhật Đức Mẹ. Dựa vào đâu mà biết được Đức Mẹ chào đời ngày 8 tháng 9? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời.

Liên quan đến lễ Sinh nhật Đức Mẹ, tôi nghĩ là cần phân biệt ba cấp độ. Thứ nhất là chân lý đức tin: Chúng ta mừng cái gì? Thứ hai là tài liệu về cuộc đời Đức Maria: dựa vào đâu mà biết được các chi tiết liên quan đến việc Đức Mẹ chào đời? Thứ ba là lịch sử phụng vụ: tại sao phụng vụ mừng ngày sinh của Đức Mẹ vào ngày 8 tháng 9? Chúng ta bắt đầu ngay với câu hỏi thứ nhất: Chúng ta mừng cái gì?

Có lẽ tiếng Việt đã hiểu sai tên gọi của ngày lễ. Tiếng Latinh là nativitas Beatae Virginis Mariae, dịch sát là “sự sinh ra của Đức Trinh nữ Maria”. Chúng ta mừng một biến cố của chương trình cứu độ, chứ không mừng một sự kiện hộ tịch. Để hiểu rõ vấn đề, chúng ta có thể so sánh với lễ ngày 25 tháng 12. Hôm ấy phụng vụ mừng lễ Chúa giáng sinh, nghĩa là Thiên Chúa đã đến cư ngụ giữa loài người. Đây là một chân lý đức tin. Do đó, đừng ai bận tâm nghĩ đến chuyện phải thắp bao nhiêu cây đèn để mừng tuổi Chúa! Một cách tương tự như vậy, trong ngày 8 tháng 9, Giáo Hội mừng việc Đức Mẹ sinh ra, bởi vì biết rằng nhờ người con của Mẹ mà nhân loại nhận được hồng ân cứu độ. Với sự xuất hiện của Đức Maria, công cuộc chuẩn bị cho ơn cứu độ, được loan báo hằng bao thế kỷ, nay sắp được thực hiện rồi. Đó là lý do lớn để vui mừng. Ý nghĩa được nêu bật trong lời nguyện nhập lễ: “Lạy Chúa, ngày sinh nhật của Đức Giêsu Con Một Chúa, Chúa đã mở đầu kỷ nguyên cứu độ, thì hôm nay, ngày sinh nhật của Thánh Mẫu Người, xin Chúa cũng rộng ban muôn phúc lộc và cho chúng con hưởng bình an”. Như vừa nói, thiết tưởng nên dịch là “cuộc giáng sinh” hoặc “việc sinh hạ” thì sát nghĩa hơn là “sinh nhật”. Vì thế, chúng ta không cần thắc mắc về vấn đề năm nay Đức Mẹ bao nhiêu tuổi rồi.

Dựa vào đâu mà chúng ta biết được những chi tiết liên quan đến việc sinh hạ Đức Maria?

Đến đây, chúng ta bước sang cấp độ thứ hai. Tân ước không cung cấp cho chúng ta một dữ kiện nào về việc Đức Mẹ chào đời. Các bài đọc Sách thánh của Thánh lễ chỉ xoay quanh cấp độ thứ nhất, nghĩa là nhờ Đức Maria mà Đấng Cứu chuộc đã đến thế gian. Những chi tiết cụ thể liên quan đến cuộc sinh hạ Đức Maria bắt nguồn từ một ngụy thư mang tên là Aviệc sinh hạ đức Maria@ (De Nativitate Mariae = Gennêsis Marias) bởi vì nói nhiều đến đức Maria, hay cũng còn được gọi là   ATin mừng tiên khởi@ của ông Giacobê. Tác phẩm này được viết bằng tiếng Hy-lạp vào hậu bán thế kỷ II. Nhờ tác phẩm này, mà chúng ta biết được quý danh của song thân của Đức Maria: ông Gioakim và bà Anna. Phần lớn tác phẩm dành để nói tới nguồn gốc lai lịch của đức Maria; còn thánh Giuse xuất hiện vào lúc đức Maria thành hôn và mang thai. Nội dung gồm 24 chương ngắn, có thể chia làm 3 phần. Phần thứ nhất (gồm 16 chương đầu), kể lai lịch, thời thơ ấu đức Maria cho tới lúc kết hôn với ông Giuse. Phần thứ hai (từ chương 17 đến 21) thuật lại những phép lạ chung quanh cuộc sinh hạ Chúa Giêsu. Phần chót (ba chương cuối từ 22 đến 24) kể chuyện vua Hêrôđê tàn sát các thiếu nhi ở Bêlem.

Tác phẩm mở đầu với cảnh ông Gioakim, một nhà phú hộ và quảng đại, bị một người tên là Rubel chế diễu vì không có con, và không muốn cho ông dâng lễ vật như các tín hữu khác. (Nên biết là xã hội Do thái coi đôi vợ chồng không có con là bạc phước). Ông Gioakim buồn tủi vô hạn, vì thế đã rời bỏ nhà cửa và vào nơi hoang địa, ăn chay 40 đêm ngày, với lòng dốc quyết rằng nếu Chúa không đến viếng thăm thì ông sẽ không trở về nhà. Bà Anna, ở nhà cô quạnh, cũng buồn rầu và than khóc số phận hiếm muộn của mình chẳng khác gì thân phận góa bụa. Bà đã than khóc thảm thiết, vào một ngày lễ của dân tộc, một dịp hân hoan của toàn dân. Trông lên trời thấy những đàn chim bay nhảy, nhìn xuống nước thấy đàn cá bay lội tung tăng, bà lại càng tủi thân, bởi vì chúng được Thiên Chúa chúc phúc với hậu duệ đông đảo, còn mình thì giống như mảnh đất khô cằn không có sức sống. Giữa lúc tuyệt vọng như vậy thì một thiên sứ hiện đến với bà Anna, báo tin cho biết Thiên Chúa đã nhậm lời của bà, và sẽ ban cho bà một hậu duệ được muôn đời nhắc đến. Nghe tin đó, bà Anna liền hứa rằng dù sinh con trai hay con gái thì cũng sẽ dâng cho Thiên Chúa để phục vụ Chúa trót đời. Thiên sứ cũng hiện ra với ông Gioakim và loan tin như vậy. Ông liền đứng dậy trở về nhà, và truyền giết 10 con chiên, 12 con bò tơ để dâng lễ tạ ơn Chúa, và giết 100 con dê để đãi cả làng.

Câu chuyện vừa rồi nhắc lại những cuộc sinh hạ kỳ diệu nhờ sự can thiệp của Thiên Chúa mà ta gặp thấy trong Cựu ước, chẳng hạn như ông Abraham (với bà Sara son sẻ), ông Samson cũng được sinh ra trong hoàn cảnh tương tự, hoặc như ông Samuel mà bà mẹ tên là Anna. Phép lạ không chỉ chứng tỏ bàn tay đặc biệt của Thiên Chúa, nhưng nhất là cho thấy sứ mạng dành cho người con sắp sinh ra. Tác giả sách “Tin mừng tiên khởi thánh Giacôbê” cũng mang một não trạng tương tự, nghĩa là ông muốn nêu bật vai trò và sứ mạng mà Chúa sẽ dành cho đức Maria.

Sau khi sinh con được 14 ngày , bà Anna đặt tên cho cô bé là Maria, một danh tánh khá quen thuộc trong dân Do thái. Khi cô bé tròn một tuổi, song thân mời các tư tế và toàn dân dự lễ cai sữa ; đây là cơ hội để bà Anna dâng lời ca tụng Thiên Chúa vì đã đoái nhìn đến mình và cất đi sự ô nhục vì son sẻ. Đến khi cô bé lên ba tuổi, thì song thân mang lên đền thờ. Cô bé hí hửng ở lại đó chứ không đòi theo bố mẹ trở về nhà.

Khi cô lên 12 tuổi và phải rời đền thờ, thì hội đồng các tư tế bàn định chuyện kết hôn qua một thủ tục diệu kỳ. Nhờ ơn trên soi sáng, thượng tế hô hào các chàng trai tới, mỗi người mang một cái que và đặt trong đền thờ. Sáng hôm sau, thượng tế vào đền thờ cầu nguyện thì thấy các que còn y nguyên như trước, và mỗi chàng lại vác que về nhà. Thế nhưng còn sót lại một que của ông Giuse và chủ nhân được gọi tới ; khi ông Giuse vừa lấy lại cây que của mình thì một con chim bồ câu thoát ra từ cây que và đáp xuống trên đầu của ông Giuse. Thật đúng là dấu lạ! Nhưng ông Giuse không dám nhận cô Maria, viện cớ là mình đã già lại phải nuôi nấng một đàn con. Thầy cả phải doạ rằng nếu ai không tuân theo ý Chúa thì sẽ bị trời phạt; ông cụ sợ quá đành rước cô Maria về nhà.

Đưa cô về nhà rồi, ông Giuse ra đi kiếm việc làm (ông làm nghề xây cất). Đang khi đó, thiên thần hiện đến báo tin cho đức Maria về việc thụ thai và sinh hạ Chúa Giêsu. Sáu tháng sau, ông Giuse trở về nhà thấy bạn mình mang bầu. Khỏi nói ai cũng đoán được tấn bi kịch diễn ra thế nào. May thay, đến đêm thiên thần hiện ra với ông Giuse để giải thích đầu đuôi câu chuyện. Nhưng đó mới là chuyện nội bộ giữa hai người; đến lượt hàng xóm và nhất là vị Thượng tế trong đền thờ cũng trách móc ông Giuse vì đã xâm phạm tiết hạnh của cô Maria. Cả ông Giuse lẫn cô Maria đều hết sức thanh minh nhưng vô ích. Sau cùng để kiểm chứng, thượng tế bắt cả hai phải uống nước đắng, theo luật của sách Dân số (5, 11-31) đã truyền khi người nào bị tố cáo về tội ngoại tình. Hai người đều uống nước đắng nhưng không bị tác dụng; cả làng mừng rỡ tung hô Chúa. Ông Giuse đưa Maria về nhà cho tới ngày đi Bêlem. Còn nhiều phép lạ nữa xảy ra khi Đức Mẹ sinh con tại Bêlem và khi Hêrôđê truy nã các anh hài.

Như vừa thấy, tác phẩm này cung cấp nhiều chi tiết liên quan đến song thân Đức Maria, ngày sinh, cũng như việc dâng mình vào đền thờ. Tiếc rằng vì là ngụy thư, cho nên không được sử dụng trong phụng vụ.

Nhưng mà tác giả đâu có nói rằng Đức Mẹ sinh vào ngày 8 tháng 9 đâu?

Đến đây, chúng ta bước sang cấp thứ ba. Không ai biết đích xác Đức Maria ra đời vào ngày nào. Việc tôn kính Đức Maria được phát triển sau công đồng Ephesô (năm 431), và lễ đầu tiên kính Đấng Thiên Chúa Thánh Mẫu là lễ an giấc (từ trần), được cử hành trên ngôi mộ của Người ở Gierusalem vào ngày 15 tháng 8. Vào thế kỷ VI, một ngôi thánh đường được cất tại Gierusalem, gần bể Betsaida, nơi mà Chúa Giêsu đã chữa lành một người bất toại, được kể lại trong Tin mừng thánh Gioan, chương 5. Ngôi thánh đường mang tên hiệu là thánh Anna, bởi vì theo tục truyền, đó là căn nhà của ông Gioakim và bà Anna. Ngày 8 tháng 9 là lễ cung hiến ngôi thánh đường ấy. Rồi từ đó lễ “Đức Mẹ chào đời” được đưa vào lịch phụng vụ bên Đông phương. Cũng vào thời đó, một ngôi nhà thờ khác được cất gần kề, và nhân dịp lễ cung hiến, ngày 20/11 năm 543, người ta mừng lễ Đức Mẹ dâng mình vào đền thờ. Tất cả những lễ này đều bắt nguồn Gierusalem, và mãi đến một thế kỷ sau, mới được du nhập vào lịch phụng vụ bên Roma, dưới thời giáo hoàng Sergio I (687-701).

Như vậy, lễ sinh nhật Đức Mẹ đã được cử hành ở Roma từ cuối thế kỷ VII. Mãi đến 800 năm sau, vào năm 1440, đức giáo hoàng Sixto IV mới thiết lập lễ Đức Mẹ được thụ thai (ngày nay được gọi là Đức Maria vô nhiễm nguyên tội), và được xếp vào ngày 8 tháng 12, nghĩa là 9 tháng trước khi chào đời.

(Trung Tâm Học Vấn Đa Minh)